Chính sách hỗ trợ

Thông tin về các chương trình ưu đãi, hỗ trợ dành riêng cho doanh nghiệp trong thời kỳ dịch bệnh Covid-19

Vướng mắc doanh nghiệp

Tập hợp các giải đáp khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp liên quan đến các chính sách, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp chịu ảnh hưởng do Covid-19.

Chi tiết câu hỏi:

Quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết số 116/2021/NQ-CP ngày 24/9/2021 của Chính phủ và Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định 28/2021/QĐ-TTg) về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) có phát sinh vướng mắc.

Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam xin báo cáo như sau:

Tại khoản 1 Điều 1 Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg quy định một trong các điều kiện để xác định đối tượng được hỗ trợ là: “Người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30/9/2021 (có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội)”.

Khi xác định đối tượng được hỗ trợ, đối chiếu với quy định tại Điều 11 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, cơ quan BHXH chưa có căn cứ rõ ràng để áp dụng đối với:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 6 Quyết định số 28/QĐ-TTg, BHXH Việt Nam kính đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sớm nghiên cứu, hướng dẫn nhóm đối tượng có thời gian tham gia BHTN, thực chất là được bảo lưu trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2020 (thời điểm đại dịch Covid-19 bắt đầu ảnh hưởng đến Việt Nam) đến 30/9/2021 nhưng không có trong danh sách đóng BHTN tại thời điểm ngày 30/9/2021 để BHXH Việt Nam có cơ sở thực hiện.

- Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BHXH.

- Người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật.

- Người lao động nghỉ việc không hưởng lương.

- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc trái pháp luật (tự ý bỏ việc).

Tại thời điểm 30/9/2021, những trường hợp nêu trên không đóng BHTN, nhưng cũng chưa phải đã ra khỏi “danh sách tham gia BHTN” của đơn vị sử dụng lao động và thực chất là có thời gian tham gia BHTN được bảo lưu theo quy định của pháp luật về việc làm, tương đồng với đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ quy định tại khoản 2 Điều 1 Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg.

Do trong hồ sơ của các cơ quan tham mưu trình cấp có thẩm quyền chưa đề cập rõ các tình huống bảo lưu thời gian đóng BHTN cụ thể ở trên. Vì vậy, Nghị quyết của Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ chưa quy định chi tiết về nội dung này.

Trước mắt, BHXH Việt Nam tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chi trả tiền hỗ trợ trong thời gian nhanh nhất đối với những đối tượng đã có quy định cụ thể; đồng thời chưa tiếp nhận hồ sơ của nhóm đối tượng này đến khi có hướng dẫn.

Xin trân trọng cám ơn./.

Trả lời:

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điều 43 Luật Việc làm thì người lao động được xác định là đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi thực hiện giao kết một trong các loại hợp đồng sau: hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn; hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp thì trường hợp người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật thì người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian này.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp thì đối tượng được hỗ trợ là người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 (có tên trong danh sách đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội). Mặt khác, nội dung này đã được nêu trong Báo cáo thẩm định số 139/BCTĐ-BTP ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Bộ Tư pháp về Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và đã được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giải trình tại Báo cáo số 138/BC-LĐXHXH ngày 30 tháng 9 năm 2021 kèm theo Tờ trình số 84/TTr-LĐTBXH ngày 30 tháng 9 năm 2021 trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg.

Như vậy, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp trên cơ sở hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc đã giao kết với người sử dụng lao động. Tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 người lao động chưa chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc, có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội nên vẫn được coi là đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp và được hỗ trợ trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp (bao gồm cả các trường hợp tạm hoãn hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, nghỉ việc không hưởng lương, ngừng việc, việc hưởng chế độ thai sản,... trong thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến ngày 30 tháng 9 năm 2021 cũng như trước ngày 01 tháng 01 năm 2020).

Tải xuống câu trả lời

Chi tiết câu hỏi:

Công ty TNHH Khu Công nghiệp Thăng Long có văn bản số 13/2021/CV-Admin-TLIP ngày 07 tháng 9 năm 2021 gửi Thủ tướng Chính phủ phản ánh những khó khăn trong hoạt động sản xuất của các nhà máy Nhật Bản tại Khu Công nghiệp Thăng Long.

Trả lời:

Về vấn đề này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính có ý kiến chỉ đạo như sau:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội gặp gỡ, trao đổi và tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp Nhật Bản tại Khu Công nghiệp Thăng Long để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất bảo đảm an toàn phòng, chống dịch.
Tải xuống câu trả lời

Chi tiết câu hỏi:

Tổng cục Hải quan nhận được công văn số 8-21/PMC-KTTC ngày 25/08/2021 của Công ty TNHH Y tế PMC đề nghị hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để điều trị bệnh Covid-19.

Trả lời:

Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
1. Về thuế nhập khẩu
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 17 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018):
“3. Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam được sử dụng để:…a) Xây dựng các Biểu thuế áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”
Căn cứ khoản 3 Điều 16 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018):
“3. Phân loại hàng hóa để xác định mã số hàng hóa làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa”
Căn cứ khoản 3 Điều 5 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 ngày 06/4/2016:
“3. Thuế suất đối với hàng hóa nhập khẩu gồm thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt, thuế suất thông thường…
a) Thuế suất ưu đãi áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam; hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước đáp ứng Điều kiện xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam;
b) Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu trong quan hệ thương mại với Việt Nam; hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước đáp ứng Điều kiện xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu trong quan hệ thương mại với Việt Nam;
c) Thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu không thuộc các trường hợp quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này. Thuế suất thông thường được quy định bằng 150% thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng. Trường hợp mức thuế suất ưu đãi bằng 0%, Thủ tướng Chính phủ căn cứ quy định tại Điều 10 của Luật này để quyết định việc áp dụng mức thuế suất thông thường.”
Đối chiếu với các quy định trên, Công ty cần xác định đúng mã số phân loại và Biểu thuế tương ứng áp dụng cho mặt hàng để xác định mức thuế suất của hàng hóa.
2. Về thuế giá trị gia tăng
Căn cứ Thông tư số 43/2021/TT-BTC ngày 11/6/2021 của Bộ Tài chính (hiệu lực từ ngày 01/8/2021) sửa đổi, bổ sung khoản 11 Điều 10 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 8 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính) quy định về mức thuế suất thuế GTGT 5% như sau:
“Thiết bị y tế có Giấy phép nhập khẩu hoặc Giấy chứng nhận đăng ký lưu hành hoặc Phiếu tiếp nhận hồ sơ công bố tiêu chuẩn theo quy định pháp luật về y tế hoặc theo Danh mục trang thiết bị y tế thuộc diện quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế được xác định mã số hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư số 14/2018/TT-BYT ngày 15/5/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế và văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có).
Bông, băng, gạc y tế và bông vệ sinh y tế; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, trừ thực phẩm chức năng; vắc-xin; sinh phẩm y tế, nước cất để pha chế thuốc tiêm, dịch truyền; mũ, quần áo, khẩu trang, săng mổ, bao tay, bao chi dưới, bao giày, khăn, găng tay chuyên dùng cho y tế, túi đặt ngực và chất làm đầy da (không bao gồm mỹ phẩm); vật tư hóa chất xét nghiêm, diệt khuẩn dùng trong y tế”
Trường hợp mặt hàng nhập khẩu của công ty được xác định là thuốc phòng bệnh, chữa bệnh thì thuế suất thuế giá trị gia tăng là 5%.
Tải xuống câu trả lời

Chi tiết câu hỏi:

Tổng cục Hải quan nhận được công văn số 7420/BYT-KH-TC ngày 7/9/2021 của Bộ Y Tế xin miễn thuế nhập khẩu và thuế GTGT lô hàng 20 triệu liều vắc xin Vero Cell của Công ty cổ phần bảo trợ Tập đoàn Vạn Thịnh Phát (gọi tắt là Tập đoàn Vạn Thịnh Phát) nhập khẩu tài trợ cho Bộ Y tế để triển khai chiến dịch tiêm vắc xin phòng Covid-19.

Trả lời:

Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
1. Về chính sách thuế nhập khẩu, thuế GTGT đối với hàng hóa của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam mua từ nước ngoài, nhập khẩu về để tài trợ cho công tác phòng, chống dịch bệnh covid-19
Ngày 11/9/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị Quyết số 106/NQ-CP về chính sách thuế đối với hàng hóa nhập khẩu để tài trợ phục vụ phòng chống dịch Covid-19, theo đó đã quy định hàng hóa của tổ chức, cá nhân Việt Nam nhập khẩu để tài trợ cho Chính phủ, Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19, được áp dụng chính sách thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng như hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại.
Cơ quan hải quan căn cứ văn bản phê duyệt của Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố, thực hiện thủ tục không thu thuế nhập khẩu theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 2 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, không thu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại khoản 19 Điều 5 của Luật Thuế giá trị gia tăng, khoản 9 Điều 3 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP của Chính phủ.
2. Về việc hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục nhập khẩu hàng hóa
Tổng cục Hải quan đã có công văn số 3794/TCHQ-GSQL ngày 29/7/2021 chỉ đạo Cục Hải quan TP. Hà Nội, Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh tạo mọi điều kiện thuận lợi, thông quan ngay trong ngày các lô hàng vật tư, thiết bị y tế, thuốc tân dược, văc-xin, sinh phẩm xét nghiệm,... để phục vụ phòng, chống dịch Covid-19.
Căn cứ các văn bản và hướng dẫn nêu trên, đề nghị Bộ Y tế thông báo cho Tập đoàn Vạn Thịnh Phát liên hệ với Cục Hải quan TP. Hà Nội hoặc Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh hoặc cơ quan hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu lô hàng tài trợ nêu trên để được hướng dẫn thực hiện chính sách thuế theo Nghị Quyết số 106/NQ-CP ngày 11/9/2021 của Chính phủ và thực hiện thủ tục hải quan theo công văn số 3794/TCHQ-GSQL ngày 29/7/2021 của Tổng cục Hải quan.
Tải xuống câu trả lời

Chi tiết câu hỏi:

Văn phòng Chính phủ nhận được công văn số 189/2021/CV-THACO ngày 27 tháng 08 năm 2021 của Công ty Cổ phần Ô tô Trường Hải (THACO) kiến nghị gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt và giảm lệ phí trước bạ đối với xe ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước trong bối cảnh đại dịch COVID-19.

Trả lời:

Về vấn đề này, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái có ý kiến như sau:
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan khẩn trương nghiên cứu xử lý đề xuất nêu trên của THACO trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 16 tháng 04 năm 2021 về Phiên họp triển khai công việc của Chính phủ sau khi được kiện toàn lại tại kỳ họp thứ 11, Nghị quyết số 105/NQ-CP ngày 09 tháng 09 năm 2021 về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại các văn bản số 5586/VPCP-KTTH ngày 13 tháng 08 năm 2021 và số 2466/VPCP-KTTH ngày 31 tháng 08 năm 2021 về mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước.
Tải xuống câu trả lời

Gửi ý kiến theo hộp dưới đây hoặc liên hệ với chúng tôi

VCCI và doanh nghiệp

Các hoạt động của VCCI nhằm hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với tác động của dịch Covid-19