Chính sách hỗ trợ

Thông tin về các chương trình ưu đãi, hỗ trợ dành riêng cho doanh nghiệp trong thời kỳ dịch bệnh Covid-19

Vướng mắc doanh nghiệp

Tập hợp các giải đáp khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp liên quan đến các chính sách, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp chịu ảnh hưởng do Covid-19.

Chi tiết câu hỏi:

Hợp tác xã do ông Lê Việt Cường (Hà Nội) sáng lập để tạo việc làm cho người khuyết tật. Hợp tác xã có 22 lao động, trong đó có 8 người khuyết tật thành nghề và có việc làm, thu nhập ổn định, đóng BHXH; 14 người đang học nghề và được hỗ trợ tiền học nghề.

Do đại dịch COVID-19, chuỗi cung ứng bị đứt gãy, hợp tác xã tạm ngưng hoạt động từ ngày 1/5/2021 và người lao động cũng bị dừng đóng BHXH đến nay.

Ông Cường đã làm hồ sơ xin trợ cấp cho 8 lao động đang đóng BHXH theo Nghị quyết số 68/NQ-CP, nhưng cơ quan chức năng trả lời không được vì hợp tác xã tạm ngưng từ tháng 5/2021 do khó khăn, không phải do cơ quan chức năng yêu cầu. Đối tượng được hưởng chính là đối tượng bị ảnh hưởng do giãn cách theo Chỉ thị số 17/CT-UBND của UBND TP. Hà Nội tính từ ngày 24/7/2021. Ông Cường hỏi, như vậy có đúng không?

Trả lời:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP. Hà Nội trả lời vấn đề này như sau:

Các cơ sở kinh doanh dịch vụ phải đóng cửa, tạm dừng hoạt động, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất không bảo đảm phương án sản xuất an toàn về phòng chống dịch phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Chỉ thị số 17/CT-UBND ngày 23/7/2021 của Chủ tịch UBND TP. Hà Nội về thực hiện cách ly toàn xã hội trên phạm vi toàn Thành phố để phòng chống dịch COVID-19 được xem xét thực hiện hỗ trợ theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Các đơn vị, doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 tự dừng hoạt động (không phải theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc không nằm trong khu vực bị cách ly y tế) dẫn đến người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương theo quy định hiện nay thì không thuộc đối tượng xem xét giải quyết hỗ trợ theo Nghị quyết số 68/NQ-CP, Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Để biết thêm thông tin chi tiết ông có thể liên hệ với UBND quận, huyện, thị xã nơi cư trú hoặc gọi tới Tổng đài điện thoại 1022 - bấm phím số 5 hoặc số 6 (chọn nhánh 5 hoặc 6) để được giải đáp, hướng dẫn.

Chi tiết câu hỏi:

Tôi được biết hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bị ảnh hưởng của dịch COVID-19 sẽ được miễn thuế phải nộp trong quý III, quý IV năm 2021. Xin hỏi, căn cứ vào đâu để xác định được số thuế được miễn?

Trả lời:

Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 92/2021/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch COVID-19 quy định về căn cứ xác định số thuế được miễn như sau:

3. Căn cứ xác định số thuế được miễn

a) Đối với trường hợp cơ quan thuế phải ra Thông báo nộp tiền: cơ quan thuế căn cứ số thuế phải nộp của các tháng trong quý III, quý IV năm 2021 trên Thông báo nộp tiền để xác định số thuế được miễn của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

b) Đối với trường hợp cơ quan thuế không phải ra Thông báo nộp tiền: người nộp thuế (bao gồm cả tổ chức, cá nhân khấu trừ, khai thay, nộp thay cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; hộ kinh doanh sử dụng hóa đơn quyển/lẻ) căn cứ số thuế phải nộp theo Tờ khai thuế để xác định số thuế được miễn của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh từ hoạt động sản xuất kinh doanh của các tháng trong quý III, quý IV năm 2021.

Trường hợp thuộc diện khai thuế theo kỳ thanh toán hoặc khai thuế theo năm (cho thuê tài sản, xây dựng nhà tư nhân, khai từng lần phát sinh khác) thì số thuế được miễn là số thuế phải nộp tương ứng với doanh thu thực tế phát sinh của các tháng trong quý III, quý IV năm 2021.

Trường hợp trên hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không xác định được doanh thu thực tế phát sinh của các tháng trong quý III, quý IV năm 2021 thì xác định theo doanh thu bình quân tháng theo giá trị hợp đồng.

Trường hợp hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh ký trong tháng thì thời gian của hợp đồng được tính đủ tháng.

Như vậy, căn cứ xác định số thuế được miễn được thực hiện theo quy định trích dẫn nêu trên.

Chi tiết câu hỏi:

Bà Nguyễn Thị Thao (Phú Yên) kinh doanh ăn uống, nhưng phải nghỉ theo Chỉ thị số 16/CT-TTg. Bà được biết có chế độ trợ cấp cho hộ kinh doanh, nhưng bà bị mất giấy đăng ký kinh doanh, chỉ có mã số thuế. Vậy bà có được hưởng trợ cấp không?

Trả lời:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Yên trả lời vấn đề này như sau:

Bà Nguyễn Thị Thao là hộ kinh doanh ăn uống nhưng vì dịch bệnh COVID-19 phải tạm dừng hoạt động kinh doanh theo Chỉ thị số 16/CT-TTg là thuộc đối tượng hỗ trợ hộ kinh doanh quy định tại Điều 35 Chương IX Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Hộ kinh doanh được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện: Có đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế; phải dừng hoạt động từ 15 ngày liên tục trở lên trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến ngày 31/12/2021 theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19.

Bà Thao phản ánh bị mất giấy tờ đăng ký kinh doanh, chỉ có mã số thuế, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời và hướng dẫn bà Thao như sau:

Hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện: - Hộ kinh doanh gửi đề nghị hỗ trợ theo Mẫu số 11 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg đến UBND cấp xã nơi có địa điểm kinh doanh. Thời hạn tiếp nhận hồ sơ chậm nhất đến hết ngày 31/1/2022.

- Trong 3 ngày làm việc, UBND cấp xã xác nhận về việc tạm ngừng kinh doanh của hộ kinh doanh; niêm yết công khai; tổng hợp, báo cáo gửi Chi cục Thuế.

- Trong 2 ngày làm việc, Chi cục Thuế chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thẩm định, gửi UBND cấp huyện tổng hợp.

- Trong 2 ngày làm việc, UBND cấp huyện rà soát, tổng hợp, trình UBND cấp tỉnh.

- Trong 2 ngày làm việc, UBND cấp tỉnh ban hành quyết định phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ; đồng thời chỉ đạo thực hiện hỗ trợ. Trường hợp không hỗ trợ, UBND cấp tỉnh thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trường hợp hộ gia đình mất giấy tờ đăng ký kinh doanh, cơ quan nào cấp đăng ký kinh doanh thì hộ gia đình đến cơ quan đã cấp để được hướng dẫn và giải quyết.

Chi tiết câu hỏi:

Quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết số 116/2021/NQ-CP ngày 24/9/2021 của Chính phủ và Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định 28/2021/QĐ-TTg) về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) có phát sinh vướng mắc.

Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam xin báo cáo như sau:

Tại khoản 1 Điều 1 Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg quy định một trong các điều kiện để xác định đối tượng được hỗ trợ là: “Người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30/9/2021 (có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội)”.

Khi xác định đối tượng được hỗ trợ, đối chiếu với quy định tại Điều 11 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, cơ quan BHXH chưa có căn cứ rõ ràng để áp dụng đối với:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 6 Quyết định số 28/QĐ-TTg, BHXH Việt Nam kính đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sớm nghiên cứu, hướng dẫn nhóm đối tượng có thời gian tham gia BHTN, thực chất là được bảo lưu trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2020 (thời điểm đại dịch Covid-19 bắt đầu ảnh hưởng đến Việt Nam) đến 30/9/2021 nhưng không có trong danh sách đóng BHTN tại thời điểm ngày 30/9/2021 để BHXH Việt Nam có cơ sở thực hiện.

- Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BHXH.

- Người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật.

- Người lao động nghỉ việc không hưởng lương.

- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc trái pháp luật (tự ý bỏ việc).

Tại thời điểm 30/9/2021, những trường hợp nêu trên không đóng BHTN, nhưng cũng chưa phải đã ra khỏi “danh sách tham gia BHTN” của đơn vị sử dụng lao động và thực chất là có thời gian tham gia BHTN được bảo lưu theo quy định của pháp luật về việc làm, tương đồng với đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ quy định tại khoản 2 Điều 1 Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg.

Do trong hồ sơ của các cơ quan tham mưu trình cấp có thẩm quyền chưa đề cập rõ các tình huống bảo lưu thời gian đóng BHTN cụ thể ở trên. Vì vậy, Nghị quyết của Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ chưa quy định chi tiết về nội dung này.

Trước mắt, BHXH Việt Nam tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chi trả tiền hỗ trợ trong thời gian nhanh nhất đối với những đối tượng đã có quy định cụ thể; đồng thời chưa tiếp nhận hồ sơ của nhóm đối tượng này đến khi có hướng dẫn.

Xin trân trọng cám ơn./.

Trả lời:

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điều 43 Luật Việc làm thì người lao động được xác định là đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi thực hiện giao kết một trong các loại hợp đồng sau: hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn; hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp thì trường hợp người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật thì người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian này.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp thì đối tượng được hỗ trợ là người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 (có tên trong danh sách đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội). Mặt khác, nội dung này đã được nêu trong Báo cáo thẩm định số 139/BCTĐ-BTP ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Bộ Tư pháp về Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và đã được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giải trình tại Báo cáo số 138/BC-LĐXHXH ngày 30 tháng 9 năm 2021 kèm theo Tờ trình số 84/TTr-LĐTBXH ngày 30 tháng 9 năm 2021 trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg.

Như vậy, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp trên cơ sở hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc đã giao kết với người sử dụng lao động. Tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 người lao động chưa chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc, có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội nên vẫn được coi là đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp và được hỗ trợ trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp (bao gồm cả các trường hợp tạm hoãn hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, nghỉ việc không hưởng lương, ngừng việc, việc hưởng chế độ thai sản,... trong thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến ngày 30 tháng 9 năm 2021 cũng như trước ngày 01 tháng 01 năm 2020).

Tải xuống câu trả lời

Chi tiết câu hỏi:

Công ty TNHH Khu Công nghiệp Thăng Long có văn bản số 13/2021/CV-Admin-TLIP ngày 07 tháng 9 năm 2021 gửi Thủ tướng Chính phủ phản ánh những khó khăn trong hoạt động sản xuất của các nhà máy Nhật Bản tại Khu Công nghiệp Thăng Long.

Trả lời:

Về vấn đề này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính có ý kiến chỉ đạo như sau:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội gặp gỡ, trao đổi và tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp Nhật Bản tại Khu Công nghiệp Thăng Long để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất bảo đảm an toàn phòng, chống dịch.
Tải xuống câu trả lời

Gửi ý kiến theo hộp dưới đây hoặc liên hệ với chúng tôi

VCCI và doanh nghiệp

Các hoạt động của VCCI nhằm hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với tác động của dịch Covid-19