Chính sách hỗ trợ

Thông tin về các chương trình ưu đãi, hỗ trợ dành riêng cho doanh nghiệp trong thời kỳ dịch bệnh Covid-19

Vướng mắc doanh nghiệp

Tập hợp các giải đáp khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp liên quan đến các chính sách, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp chịu ảnh hưởng do Covid-19.

Chi tiết câu hỏi:

Ông Kim Vô làm công nhân tại Khu Công nghiệp Tân Đức, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An. Ông và nhiều công nhân khác vẫn chưa nhận được hỗ trợ đối với người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Ông Vô hỏi, ông phải làm gì để được giải quyết hỗ trợ?

Trả lời:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Long An trả lời vấn đề này như sau:

Theo quy định tại Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 1/7/2021 của Chính phủ và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 7/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do dịch COVID-19, người lao động làm việc tại doanh nghiệp bị tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 có thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động (theo Điểm h Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Lao động) hoặc hai bên thỏa thuận nghỉ việc không hưởng lương (theo Khoản 3 Điều 115 Bộ luật Lao động) trong thời hạn của hợp đồng lao động từ 15 ngày liên tục trở lên, tính từ ngày 01 tháng 5 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021, đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tính đến thời điểm ngay trước khi tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương được hỗ trợ một lần như sau: Từ 15 ngày liên tục trở lên đến dưới 1 tháng mức 1.855.000 đồng/người; từ 1 tháng trở lên mức 3.710.000 đồng/người.

Để người lao động được hưởng chính sách này, người sử dụng lao động phải làm hồ sơ theo quy định tại Quyết định 23/2021/QĐ-TTg và Quyết định 33/2021/QĐ-TTg gồm:

- Bản sao văn bản thỏa thuận tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương.

- Danh sách người lao động có xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội theo Mẫu số 05 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này.

- Bản sao một trong các giấy tờ sau: Giấy tờ chứng minh người lao động đang mang thai; Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng sinh của trẻ em; Giấy chứng nhận nuôi con nuôi; Quyết định giao, nhận chăm sóc thay thế trẻ em của cơ quan có thẩm quyền đối với đối tượng được quy định tại Khoản 2 Điều 14 Quyết định này.

Như vậy, để hưởng chính sách hỗ trợ người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương thì người lao động không thể tự làm hồ sơ đăng ký mà phải do người sử dụng lao động lập hồ sơ đề nghị. Đề nghị ông liên hệ với công ty đang làm việc để yêu cầu công ty lập hồ sơ đề nghị hỗ trợ.

Chi tiết câu hỏi:

Bà Đặng Thị Tuyết Nhung (Bến Tre) buôn bán nước chai ướp lạnh ở ven đường, mỗi tháng thu nhập 2 triệu đồng. Do ảnh hưởng dịch, bà mất thu nhập. Bà đã làm đơn xin hỗ trợ nhưng được báo không đủ điều kiện. Bà đề nghị chính quyền địa phương xem xét giúp đỡ.

Trả lời:

Về vấn đề này, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre trả lời như sau:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã đề nghị UBND thị trấn Ba Tri rà soát về trường hợp của bà Nhung. Được biết, công việc của bà Nhung là bán tập vở, viết, khăn ướt… ngay tại nhà, ngoài ra còn có 1 tủ mát và 1 thùng nước ướp lạnh để trước cửa nhà để bán cho khách đi đường.

Theo quy định tại Quyết định số 25/2021/QĐ-UBND ngày 13/8/2021 của UBND tỉnh Bến Tre về việc hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh thì công việc của bà Nhung “buôn bán nhỏ lẻ có địa điểm cố định” nên không thuộc nhóm công việc, lĩnh vực được hỗ trợ. Khi nào có chính sách mới, địa phương sẽ thông báo rộng rãi cho người dân biết để kê khai theo quy định.

Chi tiết câu hỏi:

Hợp tác xã do ông Lê Việt Cường (Hà Nội) sáng lập để tạo việc làm cho người khuyết tật. Hợp tác xã có 22 lao động, trong đó có 8 người khuyết tật thành nghề và có việc làm, thu nhập ổn định, đóng BHXH; 14 người đang học nghề và được hỗ trợ tiền học nghề.

Do đại dịch COVID-19, chuỗi cung ứng bị đứt gãy, hợp tác xã tạm ngưng hoạt động từ ngày 1/5/2021 và người lao động cũng bị dừng đóng BHXH đến nay.

Ông Cường đã làm hồ sơ xin trợ cấp cho 8 lao động đang đóng BHXH theo Nghị quyết số 68/NQ-CP, nhưng cơ quan chức năng trả lời không được vì hợp tác xã tạm ngưng từ tháng 5/2021 do khó khăn, không phải do cơ quan chức năng yêu cầu. Đối tượng được hưởng chính là đối tượng bị ảnh hưởng do giãn cách theo Chỉ thị số 17/CT-UBND của UBND TP. Hà Nội tính từ ngày 24/7/2021. Ông Cường hỏi, như vậy có đúng không?

Trả lời:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP. Hà Nội trả lời vấn đề này như sau:

Các cơ sở kinh doanh dịch vụ phải đóng cửa, tạm dừng hoạt động, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất không bảo đảm phương án sản xuất an toàn về phòng chống dịch phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Chỉ thị số 17/CT-UBND ngày 23/7/2021 của Chủ tịch UBND TP. Hà Nội về thực hiện cách ly toàn xã hội trên phạm vi toàn Thành phố để phòng chống dịch COVID-19 được xem xét thực hiện hỗ trợ theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Các đơn vị, doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 tự dừng hoạt động (không phải theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc không nằm trong khu vực bị cách ly y tế) dẫn đến người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương theo quy định hiện nay thì không thuộc đối tượng xem xét giải quyết hỗ trợ theo Nghị quyết số 68/NQ-CP, Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Để biết thêm thông tin chi tiết ông có thể liên hệ với UBND quận, huyện, thị xã nơi cư trú hoặc gọi tới Tổng đài điện thoại 1022 - bấm phím số 5 hoặc số 6 (chọn nhánh 5 hoặc 6) để được giải đáp, hướng dẫn.

Chi tiết câu hỏi:

Tôi được biết hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bị ảnh hưởng của dịch COVID-19 sẽ được miễn thuế phải nộp trong quý III, quý IV năm 2021. Xin hỏi, căn cứ vào đâu để xác định được số thuế được miễn?

Trả lời:

Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 92/2021/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch COVID-19 quy định về căn cứ xác định số thuế được miễn như sau:

3. Căn cứ xác định số thuế được miễn

a) Đối với trường hợp cơ quan thuế phải ra Thông báo nộp tiền: cơ quan thuế căn cứ số thuế phải nộp của các tháng trong quý III, quý IV năm 2021 trên Thông báo nộp tiền để xác định số thuế được miễn của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

b) Đối với trường hợp cơ quan thuế không phải ra Thông báo nộp tiền: người nộp thuế (bao gồm cả tổ chức, cá nhân khấu trừ, khai thay, nộp thay cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; hộ kinh doanh sử dụng hóa đơn quyển/lẻ) căn cứ số thuế phải nộp theo Tờ khai thuế để xác định số thuế được miễn của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh từ hoạt động sản xuất kinh doanh của các tháng trong quý III, quý IV năm 2021.

Trường hợp thuộc diện khai thuế theo kỳ thanh toán hoặc khai thuế theo năm (cho thuê tài sản, xây dựng nhà tư nhân, khai từng lần phát sinh khác) thì số thuế được miễn là số thuế phải nộp tương ứng với doanh thu thực tế phát sinh của các tháng trong quý III, quý IV năm 2021.

Trường hợp trên hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không xác định được doanh thu thực tế phát sinh của các tháng trong quý III, quý IV năm 2021 thì xác định theo doanh thu bình quân tháng theo giá trị hợp đồng.

Trường hợp hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh ký trong tháng thì thời gian của hợp đồng được tính đủ tháng.

Như vậy, căn cứ xác định số thuế được miễn được thực hiện theo quy định trích dẫn nêu trên.

Chi tiết câu hỏi:

Bà Nguyễn Thị Thao (Phú Yên) kinh doanh ăn uống, nhưng phải nghỉ theo Chỉ thị số 16/CT-TTg. Bà được biết có chế độ trợ cấp cho hộ kinh doanh, nhưng bà bị mất giấy đăng ký kinh doanh, chỉ có mã số thuế. Vậy bà có được hưởng trợ cấp không?

Trả lời:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Yên trả lời vấn đề này như sau:

Bà Nguyễn Thị Thao là hộ kinh doanh ăn uống nhưng vì dịch bệnh COVID-19 phải tạm dừng hoạt động kinh doanh theo Chỉ thị số 16/CT-TTg là thuộc đối tượng hỗ trợ hộ kinh doanh quy định tại Điều 35 Chương IX Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Hộ kinh doanh được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện: Có đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế; phải dừng hoạt động từ 15 ngày liên tục trở lên trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến ngày 31/12/2021 theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19.

Bà Thao phản ánh bị mất giấy tờ đăng ký kinh doanh, chỉ có mã số thuế, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời và hướng dẫn bà Thao như sau:

Hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện: - Hộ kinh doanh gửi đề nghị hỗ trợ theo Mẫu số 11 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg đến UBND cấp xã nơi có địa điểm kinh doanh. Thời hạn tiếp nhận hồ sơ chậm nhất đến hết ngày 31/1/2022.

- Trong 3 ngày làm việc, UBND cấp xã xác nhận về việc tạm ngừng kinh doanh của hộ kinh doanh; niêm yết công khai; tổng hợp, báo cáo gửi Chi cục Thuế.

- Trong 2 ngày làm việc, Chi cục Thuế chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thẩm định, gửi UBND cấp huyện tổng hợp.

- Trong 2 ngày làm việc, UBND cấp huyện rà soát, tổng hợp, trình UBND cấp tỉnh.

- Trong 2 ngày làm việc, UBND cấp tỉnh ban hành quyết định phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ; đồng thời chỉ đạo thực hiện hỗ trợ. Trường hợp không hỗ trợ, UBND cấp tỉnh thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trường hợp hộ gia đình mất giấy tờ đăng ký kinh doanh, cơ quan nào cấp đăng ký kinh doanh thì hộ gia đình đến cơ quan đã cấp để được hướng dẫn và giải quyết.

Gửi ý kiến theo hộp dưới đây hoặc liên hệ với chúng tôi

VCCI và doanh nghiệp

Các hoạt động của VCCI nhằm hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với tác động của dịch Covid-19