Chi tiết câu hỏi:

Hợp tác xã do ông Lê Việt Cường (Hà Nội) sáng lập để tạo việc làm cho người khuyết tật. Hợp tác xã có 22 lao động, trong đó có 8 người khuyết tật thành nghề và có việc làm, thu nhập ổn định, đóng BHXH; 14 người đang học nghề và được hỗ trợ tiền học nghề.

Do đại dịch COVID-19, chuỗi cung ứng bị đứt gãy, hợp tác xã tạm ngưng hoạt động từ ngày 1/5/2021 và người lao động cũng bị dừng đóng BHXH đến nay.

Ông Cường đã làm hồ sơ xin trợ cấp cho 8 lao động đang đóng BHXH theo Nghị quyết số 68/NQ-CP, nhưng cơ quan chức năng trả lời không được vì hợp tác xã tạm ngưng từ tháng 5/2021 do khó khăn, không phải do cơ quan chức năng yêu cầu. Đối tượng được hưởng chính là đối tượng bị ảnh hưởng do giãn cách theo Chỉ thị số 17/CT-UBND của UBND TP. Hà Nội tính từ ngày 24/7/2021. Ông Cường hỏi, như vậy có đúng không?

Trả lời:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP. Hà Nội trả lời vấn đề này như sau:

Các cơ sở kinh doanh dịch vụ phải đóng cửa, tạm dừng hoạt động, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất không bảo đảm phương án sản xuất an toàn về phòng chống dịch phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Chỉ thị số 17/CT-UBND ngày 23/7/2021 của Chủ tịch UBND TP. Hà Nội về thực hiện cách ly toàn xã hội trên phạm vi toàn Thành phố để phòng chống dịch COVID-19 được xem xét thực hiện hỗ trợ theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Các đơn vị, doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 tự dừng hoạt động (không phải theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc không nằm trong khu vực bị cách ly y tế) dẫn đến người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương theo quy định hiện nay thì không thuộc đối tượng xem xét giải quyết hỗ trợ theo Nghị quyết số 68/NQ-CP, Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Để biết thêm thông tin chi tiết ông có thể liên hệ với UBND quận, huyện, thị xã nơi cư trú hoặc gọi tới Tổng đài điện thoại 1022 - bấm phím số 5 hoặc số 6 (chọn nhánh 5 hoặc 6) để được giải đáp, hướng dẫn.

Chi tiết câu hỏi:

Tôi được biết hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bị ảnh hưởng của dịch COVID-19 sẽ được miễn thuế phải nộp trong quý III, quý IV năm 2021. Xin hỏi, căn cứ vào đâu để xác định được số thuế được miễn?

Trả lời:

Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 92/2021/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch COVID-19 quy định về căn cứ xác định số thuế được miễn như sau:

3. Căn cứ xác định số thuế được miễn

a) Đối với trường hợp cơ quan thuế phải ra Thông báo nộp tiền: cơ quan thuế căn cứ số thuế phải nộp của các tháng trong quý III, quý IV năm 2021 trên Thông báo nộp tiền để xác định số thuế được miễn của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

b) Đối với trường hợp cơ quan thuế không phải ra Thông báo nộp tiền: người nộp thuế (bao gồm cả tổ chức, cá nhân khấu trừ, khai thay, nộp thay cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; hộ kinh doanh sử dụng hóa đơn quyển/lẻ) căn cứ số thuế phải nộp theo Tờ khai thuế để xác định số thuế được miễn của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh từ hoạt động sản xuất kinh doanh của các tháng trong quý III, quý IV năm 2021.

Trường hợp thuộc diện khai thuế theo kỳ thanh toán hoặc khai thuế theo năm (cho thuê tài sản, xây dựng nhà tư nhân, khai từng lần phát sinh khác) thì số thuế được miễn là số thuế phải nộp tương ứng với doanh thu thực tế phát sinh của các tháng trong quý III, quý IV năm 2021.

Trường hợp trên hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không xác định được doanh thu thực tế phát sinh của các tháng trong quý III, quý IV năm 2021 thì xác định theo doanh thu bình quân tháng theo giá trị hợp đồng.

Trường hợp hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh ký trong tháng thì thời gian của hợp đồng được tính đủ tháng.

Như vậy, căn cứ xác định số thuế được miễn được thực hiện theo quy định trích dẫn nêu trên.

Chi tiết câu hỏi:

Bà Nguyễn Thị Thao (Phú Yên) kinh doanh ăn uống, nhưng phải nghỉ theo Chỉ thị số 16/CT-TTg. Bà được biết có chế độ trợ cấp cho hộ kinh doanh, nhưng bà bị mất giấy đăng ký kinh doanh, chỉ có mã số thuế. Vậy bà có được hưởng trợ cấp không?

Trả lời:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Yên trả lời vấn đề này như sau:

Bà Nguyễn Thị Thao là hộ kinh doanh ăn uống nhưng vì dịch bệnh COVID-19 phải tạm dừng hoạt động kinh doanh theo Chỉ thị số 16/CT-TTg là thuộc đối tượng hỗ trợ hộ kinh doanh quy định tại Điều 35 Chương IX Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Hộ kinh doanh được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện: Có đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế; phải dừng hoạt động từ 15 ngày liên tục trở lên trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến ngày 31/12/2021 theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19.

Bà Thao phản ánh bị mất giấy tờ đăng ký kinh doanh, chỉ có mã số thuế, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời và hướng dẫn bà Thao như sau:

Hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện: - Hộ kinh doanh gửi đề nghị hỗ trợ theo Mẫu số 11 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg đến UBND cấp xã nơi có địa điểm kinh doanh. Thời hạn tiếp nhận hồ sơ chậm nhất đến hết ngày 31/1/2022.

- Trong 3 ngày làm việc, UBND cấp xã xác nhận về việc tạm ngừng kinh doanh của hộ kinh doanh; niêm yết công khai; tổng hợp, báo cáo gửi Chi cục Thuế.

- Trong 2 ngày làm việc, Chi cục Thuế chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thẩm định, gửi UBND cấp huyện tổng hợp.

- Trong 2 ngày làm việc, UBND cấp huyện rà soát, tổng hợp, trình UBND cấp tỉnh.

- Trong 2 ngày làm việc, UBND cấp tỉnh ban hành quyết định phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ; đồng thời chỉ đạo thực hiện hỗ trợ. Trường hợp không hỗ trợ, UBND cấp tỉnh thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trường hợp hộ gia đình mất giấy tờ đăng ký kinh doanh, cơ quan nào cấp đăng ký kinh doanh thì hộ gia đình đến cơ quan đã cấp để được hướng dẫn và giải quyết.

Chi tiết câu hỏi:

Quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết số 116/2021/NQ-CP ngày 24/9/2021 của Chính phủ và Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định 28/2021/QĐ-TTg) về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) có phát sinh vướng mắc.

Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam xin báo cáo như sau:

Tại khoản 1 Điều 1 Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg quy định một trong các điều kiện để xác định đối tượng được hỗ trợ là: “Người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30/9/2021 (có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội)”.

Khi xác định đối tượng được hỗ trợ, đối chiếu với quy định tại Điều 11 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, cơ quan BHXH chưa có căn cứ rõ ràng để áp dụng đối với:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 6 Quyết định số 28/QĐ-TTg, BHXH Việt Nam kính đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sớm nghiên cứu, hướng dẫn nhóm đối tượng có thời gian tham gia BHTN, thực chất là được bảo lưu trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2020 (thời điểm đại dịch Covid-19 bắt đầu ảnh hưởng đến Việt Nam) đến 30/9/2021 nhưng không có trong danh sách đóng BHTN tại thời điểm ngày 30/9/2021 để BHXH Việt Nam có cơ sở thực hiện.

- Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BHXH.

- Người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật.

- Người lao động nghỉ việc không hưởng lương.

- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc trái pháp luật (tự ý bỏ việc).

Tại thời điểm 30/9/2021, những trường hợp nêu trên không đóng BHTN, nhưng cũng chưa phải đã ra khỏi “danh sách tham gia BHTN” của đơn vị sử dụng lao động và thực chất là có thời gian tham gia BHTN được bảo lưu theo quy định của pháp luật về việc làm, tương đồng với đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ quy định tại khoản 2 Điều 1 Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg.

Do trong hồ sơ của các cơ quan tham mưu trình cấp có thẩm quyền chưa đề cập rõ các tình huống bảo lưu thời gian đóng BHTN cụ thể ở trên. Vì vậy, Nghị quyết của Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ chưa quy định chi tiết về nội dung này.

Trước mắt, BHXH Việt Nam tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chi trả tiền hỗ trợ trong thời gian nhanh nhất đối với những đối tượng đã có quy định cụ thể; đồng thời chưa tiếp nhận hồ sơ của nhóm đối tượng này đến khi có hướng dẫn.

Xin trân trọng cám ơn./.

Trả lời:

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điều 43 Luật Việc làm thì người lao động được xác định là đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi thực hiện giao kết một trong các loại hợp đồng sau: hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn; hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp thì trường hợp người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật thì người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian này.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp thì đối tượng được hỗ trợ là người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 (có tên trong danh sách đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội). Mặt khác, nội dung này đã được nêu trong Báo cáo thẩm định số 139/BCTĐ-BTP ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Bộ Tư pháp về Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và đã được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giải trình tại Báo cáo số 138/BC-LĐXHXH ngày 30 tháng 9 năm 2021 kèm theo Tờ trình số 84/TTr-LĐTBXH ngày 30 tháng 9 năm 2021 trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg.

Như vậy, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp trên cơ sở hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc đã giao kết với người sử dụng lao động. Tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 người lao động chưa chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc, có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội nên vẫn được coi là đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp và được hỗ trợ trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp (bao gồm cả các trường hợp tạm hoãn hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, nghỉ việc không hưởng lương, ngừng việc, việc hưởng chế độ thai sản,... trong thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến ngày 30 tháng 9 năm 2021 cũng như trước ngày 01 tháng 01 năm 2020).

Tải xuống câu trả lời

Chi tiết câu hỏi:

Công ty TNHH Khu Công nghiệp Thăng Long có văn bản số 13/2021/CV-Admin-TLIP ngày 07 tháng 9 năm 2021 gửi Thủ tướng Chính phủ phản ánh những khó khăn trong hoạt động sản xuất của các nhà máy Nhật Bản tại Khu Công nghiệp Thăng Long.

Trả lời:

Về vấn đề này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính có ý kiến chỉ đạo như sau:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội gặp gỡ, trao đổi và tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp Nhật Bản tại Khu Công nghiệp Thăng Long để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất bảo đảm an toàn phòng, chống dịch.
Tải xuống câu trả lời

Chi tiết câu hỏi:

Tổng cục Hải quan nhận được công văn số 8-21/PMC-KTTC ngày 25/08/2021 của Công ty TNHH Y tế PMC đề nghị hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để điều trị bệnh Covid-19.

Trả lời:

Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
1. Về thuế nhập khẩu
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 17 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018):
“3. Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam được sử dụng để:…a) Xây dựng các Biểu thuế áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”
Căn cứ khoản 3 Điều 16 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018):
“3. Phân loại hàng hóa để xác định mã số hàng hóa làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa”
Căn cứ khoản 3 Điều 5 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 ngày 06/4/2016:
“3. Thuế suất đối với hàng hóa nhập khẩu gồm thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt, thuế suất thông thường…
a) Thuế suất ưu đãi áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam; hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước đáp ứng Điều kiện xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam;
b) Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu trong quan hệ thương mại với Việt Nam; hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước đáp ứng Điều kiện xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu trong quan hệ thương mại với Việt Nam;
c) Thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu không thuộc các trường hợp quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này. Thuế suất thông thường được quy định bằng 150% thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng. Trường hợp mức thuế suất ưu đãi bằng 0%, Thủ tướng Chính phủ căn cứ quy định tại Điều 10 của Luật này để quyết định việc áp dụng mức thuế suất thông thường.”
Đối chiếu với các quy định trên, Công ty cần xác định đúng mã số phân loại và Biểu thuế tương ứng áp dụng cho mặt hàng để xác định mức thuế suất của hàng hóa.
2. Về thuế giá trị gia tăng
Căn cứ Thông tư số 43/2021/TT-BTC ngày 11/6/2021 của Bộ Tài chính (hiệu lực từ ngày 01/8/2021) sửa đổi, bổ sung khoản 11 Điều 10 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 8 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính) quy định về mức thuế suất thuế GTGT 5% như sau:
“Thiết bị y tế có Giấy phép nhập khẩu hoặc Giấy chứng nhận đăng ký lưu hành hoặc Phiếu tiếp nhận hồ sơ công bố tiêu chuẩn theo quy định pháp luật về y tế hoặc theo Danh mục trang thiết bị y tế thuộc diện quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế được xác định mã số hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư số 14/2018/TT-BYT ngày 15/5/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế và văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có).
Bông, băng, gạc y tế và bông vệ sinh y tế; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, trừ thực phẩm chức năng; vắc-xin; sinh phẩm y tế, nước cất để pha chế thuốc tiêm, dịch truyền; mũ, quần áo, khẩu trang, săng mổ, bao tay, bao chi dưới, bao giày, khăn, găng tay chuyên dùng cho y tế, túi đặt ngực và chất làm đầy da (không bao gồm mỹ phẩm); vật tư hóa chất xét nghiêm, diệt khuẩn dùng trong y tế”
Trường hợp mặt hàng nhập khẩu của công ty được xác định là thuốc phòng bệnh, chữa bệnh thì thuế suất thuế giá trị gia tăng là 5%.
Tải xuống câu trả lời

Chi tiết câu hỏi:

Tổng cục Hải quan nhận được công văn số 7420/BYT-KH-TC ngày 7/9/2021 của Bộ Y Tế xin miễn thuế nhập khẩu và thuế GTGT lô hàng 20 triệu liều vắc xin Vero Cell của Công ty cổ phần bảo trợ Tập đoàn Vạn Thịnh Phát (gọi tắt là Tập đoàn Vạn Thịnh Phát) nhập khẩu tài trợ cho Bộ Y tế để triển khai chiến dịch tiêm vắc xin phòng Covid-19.

Trả lời:

Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
1. Về chính sách thuế nhập khẩu, thuế GTGT đối với hàng hóa của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam mua từ nước ngoài, nhập khẩu về để tài trợ cho công tác phòng, chống dịch bệnh covid-19
Ngày 11/9/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị Quyết số 106/NQ-CP về chính sách thuế đối với hàng hóa nhập khẩu để tài trợ phục vụ phòng chống dịch Covid-19, theo đó đã quy định hàng hóa của tổ chức, cá nhân Việt Nam nhập khẩu để tài trợ cho Chính phủ, Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19, được áp dụng chính sách thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng như hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại.
Cơ quan hải quan căn cứ văn bản phê duyệt của Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố, thực hiện thủ tục không thu thuế nhập khẩu theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 2 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, không thu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại khoản 19 Điều 5 của Luật Thuế giá trị gia tăng, khoản 9 Điều 3 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP của Chính phủ.
2. Về việc hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục nhập khẩu hàng hóa
Tổng cục Hải quan đã có công văn số 3794/TCHQ-GSQL ngày 29/7/2021 chỉ đạo Cục Hải quan TP. Hà Nội, Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh tạo mọi điều kiện thuận lợi, thông quan ngay trong ngày các lô hàng vật tư, thiết bị y tế, thuốc tân dược, văc-xin, sinh phẩm xét nghiệm,... để phục vụ phòng, chống dịch Covid-19.
Căn cứ các văn bản và hướng dẫn nêu trên, đề nghị Bộ Y tế thông báo cho Tập đoàn Vạn Thịnh Phát liên hệ với Cục Hải quan TP. Hà Nội hoặc Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh hoặc cơ quan hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu lô hàng tài trợ nêu trên để được hướng dẫn thực hiện chính sách thuế theo Nghị Quyết số 106/NQ-CP ngày 11/9/2021 của Chính phủ và thực hiện thủ tục hải quan theo công văn số 3794/TCHQ-GSQL ngày 29/7/2021 của Tổng cục Hải quan.
Tải xuống câu trả lời

Chi tiết câu hỏi:

Văn phòng Chính phủ nhận được công văn số 189/2021/CV-THACO ngày 27 tháng 08 năm 2021 của Công ty Cổ phần Ô tô Trường Hải (THACO) kiến nghị gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt và giảm lệ phí trước bạ đối với xe ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước trong bối cảnh đại dịch COVID-19.

Trả lời:

Về vấn đề này, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái có ý kiến như sau:
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan khẩn trương nghiên cứu xử lý đề xuất nêu trên của THACO trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 16 tháng 04 năm 2021 về Phiên họp triển khai công việc của Chính phủ sau khi được kiện toàn lại tại kỳ họp thứ 11, Nghị quyết số 105/NQ-CP ngày 09 tháng 09 năm 2021 về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại các văn bản số 5586/VPCP-KTTH ngày 13 tháng 08 năm 2021 và số 2466/VPCP-KTTH ngày 31 tháng 08 năm 2021 về mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước.
Tải xuống câu trả lời

Chi tiết câu hỏi:

Do tình hình dịch Covid, trong năm 2020 công ty tôi ký hợp đồng lao động với chuyên gia nước ngoài có cam kết trong hợp đồng là chi trả chi phí cách ly tại khách sạn và chi phí điều trị (nếu có) khi vào Việt Nam làm việc. Xin hỏi, chi phí cách ly có được tính vào chi phí được trừ của công ty không?

Trả lời:

Tổng cục Thuế trả lời vấn đề này như sau:

Tổng cục Thuế đã có Công văn số 5032/TCT-CS ngày 26/11/2020 hướng dẫn về chính sách thuế đối với chi phí cách ly phòng chống dịch Covid-19 của chuyên gia nước ngoài.

Căn cứ tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp thì: Đối với chi phí cách ly tại khách sạn và chi phí điều trị cho chuyên gia nước ngoài mà doanh nghiệp ký hợp đồng lao động với người lao động trong đó có ghi khoản chi về tiền nhà do doanh nghiệp trả cho người lao động thì khoản chi phí trả cho cơ sở cách ly được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nếu có đầy đủ hóa đơn, chứng từ và thanh toán theo quy định.

Tải xuống câu trả lời

Chi tiết câu hỏi:

Tổng cục Hải quan nhận được công văn số 2367/HQHN-TXNK ngày 13/8/2021 của Cục Hải quan TP. Hà Nội đề nghị xử lý số tiền thuế phát sinh của lô hàng 01 máy xét nghiệm virus Sars-Cov-2 qua hơi thở BreFrence Go và 10.000 bộ ống ngậm xét nghiệm của Tập đoàn Vingroup - Công ty cổ phần (gọi tắt là Tập đoàn Vingroup).

Trả lời:

Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
1. Về thuế nhập khẩu
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 19 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 quy định hoàn thuế đối với trường hợp: “c) Người nộp thuế đã nộp thuế nhập khu nhưng hàng hóa nhập khẩu phải tái xuất được hoàn thuế nhập khẩu và không phải nộp thuế xuất khẩu”.
Căn cứ khoản 2 Điều 19 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 quy định “2. Hàng hóa quy định tại các Điểm a, b và c Khoản 1 Điều này được hoàn thuế khi chưa qua sử dụng, gia công, chế biến”.
Căn cứ khoản 17 Điều 1 Nghị định số 18/2021/NĐ-CP ngày 11/3/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 33 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định: “1. Hàng hóa nhập khẩu đã nộp thuế nhập khu nhưng phải tái xuất được hoàn thuế nhập khẩu và không phải nộp thuế xuất khẩu, gồm:
a) Hàng hóa nhập khẩu nhưng phải tái xuất ra nước ngoài bao gồm xuất khu trả lại chủ hàng, xuất khu hàng hóa đã nhập khẩu ra nước ngoài hoặc xuất khu vào khu phi thuế quan để sử dụng trong khu phi thuế quan. Việc tái xuất hàng hóa phải được thực hiện bởi người nhập khẩu ban đầu hoặc người được người nhập khẩu ban đầu ủy quyền, ủy thác xuất khẩu;”
Căn cứ khoản 19 Điều 1 Nghị định số 18/2021/NĐ-CP bổ sung Điều 37a Nghị định số 134/2016/NĐ-CP quy định các trường hợp không thu thuế gồm: “a) Không thu thuế đi với hàng hóa thuộc đối tượng hoàn thuế nhưng chưa nộp thuế theo quy định tại Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 36, Điều 37 Nghị định này”.
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp lô hàng máy xét nghiệm covid qua hơi thở và ống ngậm xét nghiệm của Tập đoàn Vingroup nhập khẩu sau đó tái xuất nguyên trạng (chưa qua sử dụng, gia công, chế biến tại Việt Nam) thuộc đối tượng hoàn thuế theo quy định tại khoản 17 Điều 1 Nghị định số 18/2021/NĐ-CP ngày 11/3/2021 sửa đổi, bổ sung Điều 33 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ nhưng chưa nộp thuế thì thuộc trường hợp được xử lý không thu thuế theo quy định tại khoản 19 Điều 1 Nghị định số 18/2021/NĐ-CP bổ sung Điều 37a Nghị định số 134/2016/NĐ-CP của Chính phủ.
2. Về thuế GTGT
Theo quy định tại Điều 3 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12, thì: “Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này”.
Căn cứ Điều 22 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính quy định việc tổ chức thu thuế GTGT như sau: “Cơ quan Thuế chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện quản lý thu thuế giá trị gia tăng và hoàn thuế GTGT đối với cơ sở kinh doanh; Cơ quan hải quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện quản lý thu thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu”.
Căn cứ khoản 64 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 131 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính, thì:
“4. Việc xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa được hoàn thực hiện theo quy định tại Điều 132 Thông tư này. Số tiền thuế giá trị gia tăng nộp thừa được xử lý đồng thời với thuế nhập khẩu (nếu có).”
Đối chiếu với quy định trên thì cơ quan hải quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện quản lý thu thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu và hoàn thuế GTGT nộp thừa khâu nhập khẩu.
Trường hợp của Tập đoàn Vingroup nhập khẩu lô hàng máy xét nghiệm covid qua hơi thở và ống ngậm xét nghiệm thuộc đối tượng chịu thuế GTGT khâu nhập khẩu nhưng sau đó phải tái xuất trả lại chủ hàng nước ngoài thì cơ quan hải quan thực hiện được xử lý tiền thuế GTGT nộp thừa. Tuy nhiên, thực tế Tập đoàn Vingroup đã được tạm giải phóng hàng và chưa nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu theo văn bản chấp thuận của cơ quan hải quan để phòng chống dịch bệnh Covid-19, nay hàng hóa nhập khẩu đã tái xuất nguyên trạng theo loại hình B13, không sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam thì cơ quan hải quan xử lý không thu thuế GTGT tương tự như xử lý không thu thuế nhập khẩu.
Tổng cục Hải quan thông báo để Cục Hải quan TP. Hà Nội biết và thực hiện./.
Tải xuống câu trả lời

Các khảo sát khác

Khảo sát thông tin về các vấn đề thuế - hải quan chuẩn bị Hội nghị Đối thoại Thuế - Hải quan 2021

Kết thúc: 15/11/2021

Câu hỏi: 0

Kết quả khảo sát