Khuyến nghị phục hồi ngành dịch vụ logistics hậu Covid-19

03/12/2021 | Kế hoạch phục hồi

Khuyến nghị phục hồi ngành dịch vụ logistics hậu Covid-19
Đại dịch Covid-19 bùng phát đã gây thiệt hại nặng nề lên khả năng sản xuất và dây chuyền cung ứng toàn cầu nhưng cũng mở ra con đường mới để ngành dịch vụ logistics phát triển. Tuy nhiên, ở một số mảng logistics vẫn có dấu hiệu chững lại thậm chí sụt giảm mạnh từ 10-30% so với cùng kì. Vì vậy, để duy trì những thành tựu phát triển đồng thời phục hồi toàn diện dịch vụ logistics trong giai đoạn “bình thường mới” này, các doanh nghiệp cần phải có nhìn nhận đánh giá cụ thể về tác động của đại dịch, từ đó có những giải pháp kịp thời để từng bước vượt qua khó khăn.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
Một nghiên cứu của Hiệp hội Doanh nghiệp Logistic Việt Nam (VLA) cho thấy, tỷ lệ chi phí logistics so với GDP quốc gia của Việt Nam là 18%, trong khi con số này ở các nước phát triển chỉ 9-14%. Trong tổng chi phí logistics thì chi phí vận tải chiếm 60%, chi phí xếp dỡ chiếm 21%, chi phí kho bãi chiếm 12%...
Chi phí logistics của Việt Nam vẫn còn khá cao so với các quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản và khối EU do hạn chế về kết cấu hạ tầng cảng biển gắn liền với dịch vụ sau cảng; công tác quy hoạch hạ tầng logistics, gồm cảng biển, cảng cạn, trung tâm logistics, depot, bãi đậu xe tải, xe container… chưa hiệu quả. Do đó, ứng dụng công nghệ số hóa là yêu cầu cần thiết để cắt giảm chi phí. Đây là con đường một chiều mà các DN không thể lựa chọn khác nếu muốn tồn tại, phát triển.
Tuy nhiên, đa phần các doanh logistics của Việt Nam vẫn chưa đầu tư đúng mức cho công nghệ, dẫn tới cạnh tranh vất vả với các doanh nghiệp nước ngoài. Điển hình như hệ thống cảng của Việt Nam, với 281 cảng trải dài khắp lãnh thổ có tổng công suất trên 550 triệu tấn/năm, hệ thống cảng có tiềm năng khai thác rất lớn nhưng chưa được đầu tư bài bản về ứng dụng công nghệ thông tin vào khai thác sản xuất. Do chưa ứng dụng công nghệ phần mềm hiện đại vào vận hành cảng, chủ yếu dùng nhân công kết hợp với một số phần mềm đơn giản và riêng lẻ để giải quyết các vấn đề liên quan tới nghiệp vụ khai thác cảng nên các cảng không thể tối ưu hóa khả năng lưu chuyển hàng hóa, gây chậm trễ và tắc nghẽn.
Hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào logistics đã được chứng minh trong thực tế. Điển hình như hệ thống cảng biển Singapore và Hong Kong (Trung Quốc) - những nơi đã và đang thống trị trong danh sách những cảng biển container nhộn nhịp nhất thế giới, ưu tiên ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và khai thác cảng biển từ rất sớm.
Do đó, việc sử dụng công nghệ thông tin trong vận hành các khâu cung ứng hàng hóa cần được đẩy mạnh hơn, đặc biệt là sau đại dịch Covid-19 - khi các sàn thương mại điện tử, các lệnh giao hàng điện tử đang trở thành xu thế mới đem lại cơ hội cho doanh nghiệp trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp ngay ở thời điểm hiện tại.
Tăng cường ứng dụng công nghệ với những tiến bộ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư không chỉ được kỳ vọng sẽ làm thay đổi ngành logistics nhiều nhất với những lợi ích hàng đầu như tăng năng suất lao động, cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu quả theo dõi logistics và quản lý vòng đời sản phẩm và củng cố hệ thống vận hành.... mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ áp dụng giải pháp công nghệ mang lại hiệu quả cho dịch vụ logistics và giảm đáng kể chi phí liên quan như cảng điện tử (ePort), lệnh giao hàng điện tử (eDO), số hóa chứng từ vận tải (Invoicing and Payments), đầu tư vào ứng dụng giải pháp tổng thể trong dịch vụ logistics (Saas), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), nhà kho thông minh (Smart Warehousing)...
Tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp cùng lĩnh vực
Việc đẩy mạnh liên kết giữa các doanh nghiệp logistics với nhau cần được lưu ý và thực hiện một cách rộng rãi. Nếu như trong đại dịch, các doanh nghiệp cùng ngành đồng lòng, đoàn kết vượt qua dịch cũng như cùng nhau kiến nghị các chính sách ưu đãi vượt khó khăn kinh doanh thì ở trong giai đoạn phục hồi này, các doanh nghiệp ngành dịch vụ logistics càng cần phải đồng lòng, đoàn kết hơn nữa.
Hiện nay 95% các doanh nghiệp logistics đang hoạt động là doanh nghiệp Việt Nam. Số lượng doanh nghiệp nhiều nhưng chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, quy mô hạn chế cả về vốn và nhân lực cũng như kinh nghiệm hoạt động quốc tế, chưa có sự liên kết giữa các khâu trong chuỗi cung ứng logistics và giữa doanh nghiệp dịch vụ logistics với doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Chính vì vậy, việc đẩy mạnh liên kết giữa các doanh nghiệp logistics với nhau sẽ không chỉ thúc đẩy sự chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, xây dựng các mối quan hệ và tạo niềm tin lớn giữa các doanh nghiệp mà đồng thời có thể tạo thành một mạng lưới các nhà doanh nghiệp lớn, có năng lực dẫn dắt thị trường, đặc biệt là khi ở cả chiều mua và chiều bán, doanh nghiệp của chúng ta đều bị hạn chế ở sân chơi.
Tìm kiếm thị trường mới từ các Hiệp định, Điều ước quốc tế
Bên cạnh cơ hội đến từ công nghệ, những hiệp định thương mại tự do (FTA) được Việt Nam ký kết với những đối tác thương mại lớn như Liên minh châu Âu (EVFTA) cũng là đòn bẩy đáng chú ý tăng trưởng quan trọng sau đại dịch COVID-19.
Những hiệp định như EVFTA sẽ là cú hích cho hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu của Việt Nam. Khi hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu phát triển thì sẽ kéo theo sự phát triển của ngành logistics. Bên cạnh đó, với cam kết loại bỏ thuế quan của Việt Nam cho phương tiện vận tải, các loại máy móc, thiết bị công nghệ phục vụ hoạt động logistics từ EU là cơ hội để doanh nghiệp logistics trong nước có thể mua những sản phẩm phục vụ sản xuất với giá hợp lý, tiết kiệm chi phí sản xuất, cải thiện năng lực công nghệ, tăng cường năng lực tự thực hiện, giảm các dịch vụ thuê ngoài.
Thêm vào đó, với lợi thế “sân nhà”, những phần việc mà các tập đoàn logistics lớn trên thế giới không làm được khi thâm nhập thị trường Việt Nam sẽ là cơ hội cho doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam, đặc biệt là các khâu vận tải, giao nhận hay tiến hành thủ tục hải quan trong nước. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế Việt Nam ngày càng được cải thiện như hiện nay, lợi thế này sẽ sớm biến thành thách thức khi các yếu tố liên quan đến thủ tục, trình tự ngày càng được đơn giản hóa. Nếu không có chuẩn bị ngay từ bây giờ, doanh nghiệp Việt Nam rất dễ bị thất thế trong cuộc chạy đua với các tập đoàn logistics lớn trên thế giới - những doanh nghiệp vốn đã có có trình độ và nguồn lực mạnh hơn rất nhiều. Vì thế, tận dụng thời gian để nắm lấy thời cơ chính là chìa khóa giúp doanh nghiệp ngành dịch vụ logistics Việt Nam sớm phục hồi và phát triển một cách bền vững lâu dài.