THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU Xuất nhập khẩu: Động lực quan trọng cho tăng trưởng

Trong 70 năm hình thành và phát triển của ngành Công Thương, cùng các dấu mốc lịch sử của đất nước, hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) của Việt Nam đã có sự thay đổi mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng cũng như sự đổi mới sáng tạo của nền kinh tế.

Gắn chính sách với yêu cầu thực tiễn

Theo Cục XNK (Bộ Công Thương), ở giai đoạn đầu, khi hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra trong bối cảnh đất nước chia cắt, vừa sản xuất vừa chiến đấu, hoạt động xuất khẩu (XK) không nhiều, hoạt động ngoại thương chủ yếu là nhập khẩu (NK). Trong các hoạt động NK, việc dùng ngoại tệ của nhà nước để trao đổi, mua bán hàng hóa rất ít. NK thực chất là sự tiếp nhận viện trợ từ các nước bên ngoài, chủ yếu với mục đích tăng cường tiềm lực kinh tế, quốc phòng, duy trì và phát triển sản xuất, phục vụ chiến đấu, chi viện cho miền Nam. Giai đoạn này, hoạt động ngoại thương đã đóng góp một phần trong việc mở rộng quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước. Năm 1955, hoạt động XK chỉ được thực hiện bó hẹp với thị trường 10 nước, đến năm 1969 đã tăng lên 30 nước.

Sau giải phóng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 của Đảng là dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới tư duy quản lý, điều hành. Ngay từ những năm đầu thực hiện "đổi mới" và "mở cửa", nghị quyết của Đại hội Đảng đã thể hiện "XK là mũi nhọn có ý nghĩa quyết định đối với nhiều mục tiêu kinh tế trong 5 năm này (1986 - 1990), đồng thời cũng là khâu chủ yếu của toàn bộ các quan hệ kinh tế đối ngoại". Các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển XK được thể hiện và cụ thể hóa tại các Chiến lược XNK hàng hóa qua từng thời kỳ.

Cụ thể, Chỉ thị số 22/2000/CT-TTg ngày 27/10/2000 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược XNK hàng hóa và dịch vụ thời kỳ 2001 - 2010, đã xác định: Tiếp tục chủ trương dành ưu tiên cao nhất cho XK, tăng tốc XK trên mọi lĩnh vực; tạo nguồn hàng có chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao để XK; góp phần giải quyết việc làm cho xã hội, tạo nguồn dự trữ ngoại tệ, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa…

Năm 2006, để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới, nhất là chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 156/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 phê duyệt Đề án Phát triển XK giai đoạn 2006 - 2010 với mục tiêu tổng quát: Phát triển XK với tốc độ cao và bền vững. Chuyển dịch cơ cấu XK theo hướng đẩy mạnh XK những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng XK thô. Kiềm chế mức nhập siêu hợp lý, thông qua thúc đẩy XK hàng hóa và dịch vụ, phát triển sản xuất các sản phẩm có lợi thế so sánh để bảo đảm nhu cầu trong nước, tiến tới cân bằng XK - NK vào những năm đầu sau năm 2010.

Từ năm 2006 đến nay là giai đoạn Việt Nam hội nhập kinh tế sâu rộng với sự kiện quan trọng là Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Vì thế, tiếp nối các chính sách và chiến lược ngoại thương của những giai đoạn trước, trong giai đoạn này, chúng ta có định hướng tiếp tục khai thác lợi thế tương đối của Việt Nam cộng với những cơ hội của hội nhập để khai thác tối đa các thị trường XK, phát triển thị trường mới. Đặc biệt, việc gia nhập WTO cũng đòi hỏi các chính sách ngoại thương cũng như công cụ, biện pháp được áp dụng phải phù hợp với những quy định của WTO và cam kết của Việt Nam. Vì vậy, một trong các chức năng của chính sách ngoại thương là thực hiện cam kết hội nhập của Việt Nam.

Ngoài ra, một định hướng quan trọng của chính sách ngoại thương đó là, XK phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu XK theo hướng đẩy mạnh XK những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng XK thô.

Để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn mới, ngày 28/12/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2471/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược XNK hàng hóa thời kỳ 2011 - 2020, định hướng đến năm 2030. Trong đó, đã đề ra định hướng chung: Phát triển XK theo mô hình tăng trưởng bền vững và hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao giá trị gia tăng XK; chuyển dịch cơ cấu hàng hóa XK hợp lý theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tập trung nâng nhanh tỷ trọng các sản phẩm XK có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, sản phẩm thân thiện với môi trường trong cơ cấu hàng hóa XK.

Kết quả tích cực

Xem thêm.

Báo Công Thương