Gửi ý kiến theo hộp dưới đây hoặc liên hệ với chúng tôi

Chi tiết câu hỏi:

Ngày 23/07/2021, Cục thuế Thành phố Hà Nội nhận được công văn số 68874/CV-MSCV ghi ngày 6/7/2021 của Công ty TNHH Thiết bị Y tế Olympus Việt Nam (sau đây gọi là Công ty) hỏi về chi phí liên quan đến Covid-19.

Trả lời:

Cục Thuế TP Hà Nội có ý kiến như sau:

- Căn cứ Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp quy định:

“Điều 6, Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, doanh của doanh nghiệp.

b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.

c) Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

...

2. Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:

2.6. Chi tiền lương, tiền công, tiền thưởng cho người lao động thuộc một trong các trường hợp sau:

....

- Trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng lao động với người lao động trong đó có ghi khoản chi về tiền nhà do doanh nghiệp trả cho người lao động, khoản chi trả này có tính chất tiền lương, tiền công và có đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định thì được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

...

2.30. Các khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế, trừ các khoản chi sau:

...

- Khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động như: chi đám hiếu, hỷ của bản thân và gia đình người lao động; chi nghỉ mát, chi hỗ trợ điều trị; chi hỗ trợ bổ sung kiến thức học tập tại cơ sở đào tạo; chi hỗ trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, ốm đau; chi khen thưởng con của người lao động có thành tích tốt trong học tập; chi hỗ trợ chi phí đi lại ngày lễ, tết cho người lao động; chi bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tự nguyện khác cho người lao động (trừ khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động hướng dẫn tại điểm 2.6, bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động hướng dẫn tại điểm 2.II Điều này) và những khoản chi có tính chất phúc lợi khác. Tổng số chi có tính chất phúc lợi nêu trên không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp.

....”

- Căn cứ tiết đ.3.2 khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính, quy định về các khoản thu nhập chịu thuế TNCN:

“2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công

đ) Các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế được hưởng dưới mọi hình thức:

...

đ.3.2) Khoản chi dịch vụ khác phục vụ cho cá nhân trong hoạt động chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí thẩm mỹ... nếu nội dung chi trả ghi rõ tên cá nhân được hưởng. Trường hợp nội dung chi trả phí dịch vụ không ghi tên cá nhân được hưởng mà chi chung cho tập thể người lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế.

...

đ.7) Các khoản lợi ích khác.

Các khoản lợi ích khác mà người sử dụng lao động chi cho người lao động như: chi trong các ngày nghỉ, lễ; thuê các dịch vụ tư vấn, thuê khai thuế cho đích danh một hoặc một nhóm cá nhân; chi cho người giúp việc gia đình như lái xe, người nấu ăn, người làm các công việc khác trong gia đình theo hợp đồng...

...”

- Căn cứ điểm a Điều 1 công văn số 7038/VPCP-KTTH ngày 24/8/2020 của Văn phòng Chính phủ về chi phí cách ly, chi phí điều trị Covid-19 quy định như sau:

“a) Về chi phí cách ly tập trung

- Đối với các trường hợp thực hiện cách ly tại các doanh trại quân đội, các trường của quân đội: Tiếp tục thực hiện chế độ đối với người bị áp dụng biện pháp cách ly tập trung theo Nghị quyết số 37/NQ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ về một số chế độ đặc thù trong phòng, chống dịch Covid-19. Kinh phí thực hiện do ngân sách nhà nước bảo đảm và hỗ trợ một phần từ nguồn kinh phí do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp nhận ủng hộ cho phòng, chống dịch Covid-19.

- Đối với các trường hợp nhập cảnh vào Việt Nam và bị áp dụng biện pháp cách ly tập trung có nhu cầu thực hiện cách ly tại khách sạn, resort, cơ sở khác được chọn làm nơi cách ly tập trung: Cá nhân tự chi trả các chi phí về ăn, ở, sinh hoạt trong những ngày cách ly cho khách sạn, resort, cơ sở khác theo mức giá do khách sạn, resort, cơ sở khác quy định; đồng thời, phải chấp hành việc chỉ định xét nghiệm theo yêu cầu chuyên môn của cơ quan y tế và tự chi trả chi phí xét nghiệm cho cơ sở y tế theo mức giá dịch vụ y tế hiện hành.....”

....”

Căn cứ các quy định trên, Cục Thuế TP Hà Nội có ý kiến như sau:

- Về việc xác định chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN:

+ Đối với chi phí cách ly cho người lao động: Trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng lao động với người lao động trong đó có ghi khoản chi về tiền nhà do doanh nghiệp trả cho người lao động thì khoản chi phí trả cho cơ sở cách ly được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nếu có đầy đủ hóa đơn, chứng từ và thanh toán theo quy định.

+ Khoản chi phí xét nghiệm Covid-19, tiêm vacxin cho người lao động được coi là khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động, nếu khoản chi phí này được thực hiện theo quy định tại Điểm 2.30 Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính (được sửa đổi bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính) và tổng số chi có tính chất phúc lợi không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp thì được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có đầy đủ hóa đơn, chứng từ và thanh toán theo quy định.

- Về việc xác định thu nhập chịu thuế TNCN:

Trường hợp Công ty trong đợt dịch Covid-19 có phát sinh các khoản chi phí phòng, chống dịch Covid-19 theo quy định của pháp luật nếu các khoản chi này nội dung ghi rõ tên cá nhân hưởng thì được tính vào thu nhập chịu thuế TNCN theo quy định tại tiết đ.3.2 Khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC.

Trong quá trình thực hiện chính sách thuế, trường hợp còn vướng mắc, Công ty có thể tham khảo các văn bản hướng dẫn của Cục Thuế TP Hà Nội được đăng tải trên website http://hanoi.gdt.gov.vn hoặc liên hệ với Phòng Thanh tra Kiểm tra số 2 để được hỗ trợ giải quyết.

Cục Thuế TP Hà Nội trả lời để Công ty TNHH Thiết bị Y tế Olympus Việt Nam được biết và thực hiện./.

Toàn văn Công văn trả lời

Tải xuống câu trả lời

Chi tiết câu hỏi:

Chi tiết câu hỏi :

Co tôi hỏi, để được nhận hỗ trợ khó khăn do dịch COVID-19 theo chủ trương của Chính phủ thì đơn vị tôi phải đáp ứng thêm điều kiện là tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 có phải không?

Trả lời:

Trả lời :

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Lâm Đồng trả lời vấn đề này như sau:

Tại Điều 13 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, quy định:

“Điều 13. Đối tượng, điều kiện hỗ trợ

Người lao động làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên hoặc chi đầu tư và chi thường xuyên, cơ sở giáo dục dân lập, tư thục ở cấp giáo dục mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp (sau đây gọi là doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ sở giáo dục) phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 được hỗ trợ khi đủ các điều kiện sau:

1. Tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương trong thời hạn của hợp đồng lao động, từ 15 ngày liên tục trở lên, tính từ ngày 01/5/2021 đến hết ngày 31/12/ 2021 và thời điểm bắt đầu tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ ngày 01/5/2021 đến ngày 31/12/ 2021.

2. Đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại tháng liền kề trước thời điểm người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương”

Theo như nội dung ông Trà trình bày và căn cứ quy định tại Điều 13 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg thì phải có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là phải tạm dừng hoạt động để phòng, chống dịch COVID-19 thì mới thuộc đối tượng được xem xét hỗ trợ theo quy định. Những ngành nghề không nằm trong danh mục ngành nghề phải tạm dừng thì được phép hoạt động, do đó không thuộc đối tượng được hỗ trợ.

Chi tiết câu hỏi:

Chi tiết câu hỏi :

Cho tôi hỏi, các phụ cấp và hỗ trợ phụ cấp chống dịch theo Nghị quyết số 37/NQ-CP ngày 29/3/2020 của Chính phủ về một số chế độ đặc thù trong phòng, chống dịch COVID-19 có tính thuế thu nhập cá nhân không?

Năm 2021 có thêm các chương trình mục tiêu như dân số, Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC)… Vậy, cá nhân có thu nhập từ chương trình này tính thuế như thế nào?

Trả lời:

Trả lời :

Chi cục Thuế khu vực Thanh Khê – Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng trả lời vấn đề này như sau:

Căn cứ Điểm b.4, b.11 Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định các khoản thu nhập chịu thuế từ tiền lương tiền công, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp sau:

“b.4) Phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm.

...b.11) Phụ cấp đặc thù ngành nghề.

Các khoản phụ cấp, trợ cấp và mức phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế hướng dẫn tại điểm b, khoản 2, Điều này phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định”.

Căn cứ Điều 3 Nghị quyết số 37/NQ-CP ngày 29/3/2020 của Chính phủ về một số chế độ đặc thù trong phòng, chống dịch COVID-19 quy định điều khoản thi hành:

“1. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

2. Chế độ đặc thù quy định tại Nghị quyết này được thực hiện trong thời gian phòng, chống dịch COVID-19. Các chế độ khác không được quy định tại Nghị quyết này thì thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật”.

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Trung tâm y tế quận Liên Chiểu thực hiện chi phụ cấp chống dịch cho cán bộ y tế, người lao động tham gia phòng, chống dịch có đầy đủ chứng từ theo quy định thì cá nhân nhận phụ cấp thuộc trường hợp không chịu thuế thu nhập cá nhân.

Trường hợp cá nhân có thu nhập từ các chương trình mục tiêu như dân số, Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC)… do bà Yến không cung cấp hồ sơ nên Chi cục Thuế chưa có căn cứ trả lời.

Chi cục Thuế khu vực Thanh Khê – Liên Chiểu trả lời để bà Trần Ngọc Yến biết và thực hiện.

Trường hợp cần trao đổi thêm, đề nghị liên hệ Đội Tuyên truyền Hỗ trợ Người nộp thuế (số điện thoại: 0236.3751432) để được hướng dẫn.

Chi tiết câu hỏi:

Chi tiết câu hỏi :

Tôi làm việc cho doanh nghiệp, có hợp đồng lao động và đóng BHXH. TP. Tuy Hòa thực hiện giãn cách theo Chỉ thị số 16/CT-TTg nên tôi nghỉ việc không hưởng lương từ ngày 1/6 đến ngày 31/6/2021. Vậy tôi có được nhận hỗ trợ theo Nghị quyết số 68/NQ-CP không?

Trả lời:

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Yên trả lời vấn đề này như sau:

Nếu công ty của ông Sơn phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 thì ông được hỗ trợ khi đủ 2 điều kiện sau:

- Tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương trong thời hạn của hợp đồng lao động, từ 15 ngày liên tục trở lên, tính từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021 và thời điểm bắt đầu tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ ngày 1/5/2021 đến ngày 31/12/2021.

Đang tham gia BHXH bắt buộc tại tháng liền kề trước thời điểm người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương.

Hồ sơ đề nghị hỗ trợ người lao động do công ty làm.

Chi tiết câu hỏi:

Cá nhân có thu nhập từ cho thuê tài sản dưới 100 triệu đồng/năm thuộc đối tượng không phải nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) thì cá nhân có phải nộp hồ sơ khai thuế hay không? Doanh nghiệp đi thuê tài sản của cá nhân và trong hợp đồng quy định doanh nghiệp có trách nhiệm khai thuế thay đối với hoạt động cho thuê tài sản, thu nhập từ cho thuê tài sản do đơn vị chi trả dưới 100 triệu đồng, thì doanh nghiệp có nghĩa vụ khai thuế thay cho cá nhân hay không?

Trả lời:

Trả lời:

Cục Thuế TP. Hà Nội trả lời vấn đề này như sau:

Căn cứ Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính:

Tại Điểm b Khoản 1 Điều 4 hướng dẫn về nguyên tắc áp dụng đối với phương pháp tính thuế đối với cá nhân cho thuê tài sản:

“1. Nguyên tắc áp dụng

b) Đối với cá nhân cho thuê tài sản thì mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế GTGT và không phải nộp thuế TNCN là tổng doanh thu phát sinh trong năm dương lịch của các hợp đồng cho thuê tài sản...”.

Tại Điều 8 hướng dẫn khai thuế đối với cá nhân cho thuê tài sản và tổ chức khai thay, nộp thuế thay cho cá nhân cho thuê tài sản:

“1. Đối với trường hợp cá nhân trực tiếp khai thuế với cơ quan thuế

... - Cá nhân trực tiếp khai thuế thực hiện khai thuế GTGT, thuế TNCN nếu có tổng doanh thu cho thuê tài sản trong năm dương lịch trên 100 triệu đồng.

2. Đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khai thuế, nộp thuế thay cho cá nhân cho thuê tài sản

Cá nhân ký hợp đồng cho thuê tài sản với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế mà trong hợp đồng thuê có thoả thuận bên đi thuê nộp thuế thay thì doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có trách nhiệm khấu trừ thuế, khai thuế và nộp thuế thay cho cá nhân bao gồm cả thuế GTGT và thuế TNCN.

a) Khấu trừ thuế

Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khấu trừ thuế GTGT, thuế TNCN trước khi trả tiền thuê tài sản cho cá nhân nếu trong năm dương lịch cá nhân có doanh thu cho thuê tài sản tại đơn vị trên 100 triệu đồng. Trường hợp trong năm cá nhân phát sinh doanh thu từ nhiều nơi, cá nhân dự kiến hoặc xác định được tổng doanh thu trên 100 triệu đồng/năm thì có thể uỷ quyền theo quy định của pháp luật để doanh nghiệp, tổ chức khai thay, nộp thay đối với hợp đồng cho thuê từ 100 triệu/năm trở xuống tại đơn vị.

Quy định mới về khai nộp thuế từ 1/8/2021

Căn cứ Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 1/6/2021 của Bộ Tài chính (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2021) hướng dẫn thuế GTGT, TNCN và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh:

Tại Khoản 2 Điều 4 quy định về nguyên tắc khai thuế:

“2. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm dương lịch từ 100 triệu đồng trở xuống thì thuộc trường hợp không phải nộp thuế GTGT và không phải nộp thuế TNCN theo quy định pháp luật về thuế GTGT và thuế TNCN...”.

Tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 8 hướng dẫn phương pháp tính thuế đối với trường hợp tổ chức, cá nhân khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân:

“1. Tổ chức, cá nhân khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân trong các trường hợp sau đây:

a) Tổ chức thuê tài sản của cá nhân mà trong hợp đồng thuê tài sản có thoả thuận bên đi thuê là người nộp thuế;

... 3. Trường hợp trong năm cá nhân phát sinh doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống tại nhiều nơi, cá nhân dự kiến hoặc xác định được tổng doanh thu trên 100 triệu đồng/năm thì có thể ủy quyền cho các tổ chức chi trả khai thuế thay, nộp thuế thay đối với doanh thu phát sinh tại đơn vị được ủy quyền trong năm tính thuế. Riêng đối với hộ khoán mà ngoài doanh thu khoán, hộ khoán còn nhận được các khoản thưởng, hỗ trợ đạt doanh số, khuyến mại, chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, chi hỗ trợ bằng tiền hoặc không bằng tiền, khoản bồi thường vi phạm hợp đồng, bồi thường khác thì tổ chức chi trả thực hiện khai thuế thay, nộp thuế thay theo thực tế chi trả các khoản này trong năm tính thuế. Trường hợp tổ chức khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân cho thuê tài sản thì áp dụng việc xác định mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định đối tượng không phải nộp thuế theo hướng dẫn tại Điểm c Khoản 1 Điều 9 Thông tư này”.

Tại Điểm c Khoản 1 Điều 9 hướng dẫn về phương pháp tính thuế đối với cá nhân cho thuê tài sản:

“1. Cá nhân cho thuê tài sản

c) Cá nhân cho thuê tài sản không phát sinh doanh thu đủ 12 tháng trong năm dương lịch (bao gồm cả trường hợp có nhiều hợp đồng cho thuê) thì mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân cho thuê tài sản không phải nộp thuế GTGT, không phải nộp thuế TNCN là doanh thu tính thuế TNCN của một năm dương lịch (12 tháng); doanh thu tính thuế thực tế để xác định số thuế phải nộp trong năm là doanh thu tương ứng với số tháng thực tế phát sinh cho thuê tài sản”.

Căn cứ các quy định trên, Cục Thuế TP. Hà Nội trả lời nguyên tắc như sau:

Trường hợp cá nhân cho thuê tài sản thì mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế GTGT và không phải nộp thuế TNCN là tổng doanh thu phát sinh trong năm dương lịch của các hợp đồng cho thuê tài sản.

Cá nhân ký hợp đồng cho thuê tài sản với doanh nghiệp mà trong hợp đồng thuê có thoả thuận bên đi thuê nộp thuế thay thì doanh nghiệp có trách nhiệm khấu trừ thuế, khai thuế và nộp thuế thay cho cá nhân bao gồm cả thuế GTGT và thuế TNCN.

Doanh nghiệp khấu trừ thuế GTGT, thuế TNCN trước khi trả tiền thuê tài sản cho cá nhân nếu trong năm dương lịch cá nhân có doanh thu cho thuê tài sản tại đơn vị trên 100 triệu đồng.

Trường hợp trong năm cá nhân phát sinh doanh thu từ nhiều nơi, cá nhân dự kiến hoặc xác định được tổng doanh thu trên 100 triệu đồng/năm thì có thể uỷ quyền theo quy định của pháp luật để doanh nghiệp khai thay, nộp thay đối với hợp đồng cho thuê từ 100 triệu/năm trở xuống tại đơn vị.

Kể từ ngày 1/8/2021, đề nghị bà thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 40/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính nêu trên.

Trong quá trình thực hiện chính sách thuế, trường hợp còn vướng mắc, đề nghị bà liên hệ với cơ quan thuế quản lý nơi phát sinh địa điểm kinh doanh để được hỗ trợ giải quyết.

Tải xuống câu trả lời

Chi tiết câu hỏi:

Người lao động và đơn vị sử dụng lao động có thể nộp trực tuyến hồ sơ đề nghị hỗ trợ gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia (tại địa chỉ: https://ncovi.dichvucong.gov.vn/).

Trả lời:

Cổng Dịch vụ công Quốc gia sẽ gửi hồ sơ sang cơ quan bảo hiểm xã hội để giải quyết (đối với dịch vụ công "Tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất") và xác nhận (đối với các dịch vụ công khác).

Đồng thời, để hoàn thiện hồ sơ đề nghị hỗ trợ gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, đơn vị sử dụng lao động có thể nộp hồ sơ để Cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận theo quy định tại Chương I, II, III của Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg trên Cổng Dịch vụ công Bảo hiểm xã hội Việt Nam (tại địa chỉ: https://dichvucong.baohiemxahoi.gov.vn/) hoặc trên phần mềm của nhà cung cấp dịch vụ kê khai bảo hiểm xã hội điện tử (I-VAN).

Chi tiết câu hỏi:

Câu hỏi:

Công ty tôi vì dịch COVID-19 phải tạm dừng hoạt động. Xin hỏi, công ty cần chuẩn bị giấy tờ gì để người lao động được hưởng chính sách hỗ trợ từ nhà nước và nộp hồ sơ tại đâu?

Trả lời:

Trả lời:

Luật gia Hoàng Thị Quỳnh, Công ty Luật TNHH YouMe trả lời:

Điều 23 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 quy định về hồ sơ đề nghị hỗ trợ như sau:

1. Đề nghị hỗ trợ theo Mẫu số 07 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này.

2. Bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu của một trong các giấy tờ sau:

a) Hợp đồng lao động đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

b) Quyết định thôi việc.

c) Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Bản sao Sổ bảo hiểm xã hội hoặc xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội về việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp.

4. Bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu một trong các giấy tờ sau: Giấy tờ chứng minh người lao động đang mang thai; Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng sinh của trẻ em; Giấy chứng nhận nuôi con nuôi; Quyết định giao, nhận chăm sóc thay thế trẻ em của cơ quan có thẩm quyền đối với đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 22 Quyết định này.

Điều 24 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch covid-19 quy định về trình tự, thủ tục thực hiện như sau:

1. Người lao động có nhu cầu hỗ trợ gửi hồ sơ đến Trung tâm Dịch vụ việc làm thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động. Thời hạn tiếp nhận hồ sơ chậm nhất đến hết ngày 31 tháng 01 năm 2022.

Như vậy, người lao động cần chuẩn bị hồ sơ đề nghị hỗ trợ như quy định trích dẫn ở trên và gửi hồ sơ đến Trung tâm Dịch vụ việc làm thuộc Sở LĐTBXH nơi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động.

Nguồn: Báo lao động

Chi tiết câu hỏi:

Câu hỏi:

Theo phản ánh của ông Trần Anh Tuấn, người đại diện theo pháp luật Công ty TNHH MTV Mây Việt (Đồng Nai), hiện một số ngân hàng thương mại không hỗ trợ cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng dịch COVID-19 mà còn gây khó khăn.

Cụ thể, các ngân hàng không cho doanh nghiệp vay, thông báo ngưng giải ngân; các tài trợ thương mại thanh toán quốc tế như LC có bảo đảm từ khách hàng đều bị từ chối cho vay. Đối với Công ty của ông Tuấn, ngân hàng “ép” trả các khoản vay đến hạn có thế chấp bằng tài sản, không tiếp tục cho vay để bổ sung vốn lưu động trong trạng thái công ty đang hoạt động, tăng lãi suất cho vay.

Ông Tuấn có một khoản gửi tiết kiệm tại OCB - Chi nhánh Đồng Nai, lãi suất 3,7%/năm, ngân hàng đề nghị Công ty ông sử dụng gói trả theo tháng, nhưng nếu Công ty vay thì lãi suất lại từ 9-10%/năm. Trong hợp đồng ký hạn mức với OCB - Chi nhánh Đồng Nai, OCB tự ý thông báo ngưng thực hiện hợp đồng hạn mức đã ký. Việc này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc kinh doanh của Công ty.

Qua Cổng TTĐT Chính phủ, ông Tuấn đề nghị cơ quan chức năng xem xét, giải quyết, trả lời các vấn đề ông đã nêu trên.

Trả lời:

Trả lời:

Về vấn đề này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến như sau:

Đối với nội dung “không cho doanh nghiệp vay, thông báo ngưng giải ngân”: Ông Trần Anh Tuấn là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV Mây Việt (Công ty Mây Việt). Tại thời điểm ngày 30/5/2021, tổng dư nợ tín dụng tại OCB - Chi nhánh Đồng Nai là 14.500 triệu đồng.

Hiện tại OCB - Chi nhánh Đồng Nai vẫn giải ngân theo nhu cầu của Công ty Mây Việt trong phần hạn mức có tài sản bảo đảm và ngừng giải ngân đối với phần hạn mức không có tài sản bảo đảm.

Nguyên nhân OCB - Chi nhánh Đồng Nai ngưng giải ngân đối với phần hạn mức tín dụng không có tài sản bảo đảm cho Công ty Mây Việt là do doanh thu của Công ty sụt giảm nghiêm trọng, không có nguồn thu/dòng tiền về để bảo đảm thanh toán nợ đến hạn (đặc biệt là sụt giảm nguồn thu từ USD) nên OCB - Chi nhánh Đồng Nai thực hiện theo điều khoản đã ký kết giữa hai bên tại hợp đồng tín dụng.

Về nội dung “các tài trợ thương mại thanh toán quốc tế như LC có bảo đảm từ khách hàng đều bị từ chối cho vay”: Các khoản tài trợ LC của Công ty Mây Việt dựa trên tài sản bảo đảm bằng nguồn thu từ LC xuất khẩu, về bản chất đây được cho là khoản vay không có tài sản bảo đảm, khi nguồn thu từ xuất khẩu của Công ty Mây Việt sụt giảm sẽ ảnh hưởng đến tài sản bảo đảm.

Do đó, để đảm bảo an toàn vốn của mình, OCB - Chi nhánh Đồng Nai đã thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro theo điều khoản đã ký kết giữa giữa OCB - Chi nhánh Đồng Nai và Công ty Mây Việt tại hợp đồng tín dụng.

Đối với nội dung: “Ép trả các khoản vay đến hạn có thế chấp bằng tài sản, không tiếp tục cho vay để bổ sung vốn lưu động trong trạng thái Công ty đang hoạt động”: Qua kiểm tra lịch sử trả nợ của Công ty Mây Việt, các khoản thu nợ gốc trong thời gian qua chủ yếu là các khoản vay đã đến hạn. Do đó, Công ty Mây Việt có nghĩa vụ thực hiện trả nợ cho ngân hàng là theo đúng thỏa thuận giữa hai bên và theo quy định của pháp luật.

Việc “không tiếp tục cho vay để bổ sung vốn lưu động trong trạng thái doanh nghiệp đang hoạt động” là do doanh thu của Công ty sụt giảm nghiêm trọng, không có nguồn thu/dòng tiền về để bảo đảm thanh toán nợ đến hạn (đã giải đáp như nêu trên).

Về nội dung “tăng lãi suất cho vay, không hỗ trợ doanh nghiệp”: Khi ký hợp đồng tín dụng hạn mức giữa OCB - Chi nhánh Đồng Nai và Công ty Mây Việt bằng cả VND và ngoại tệ (USD). Thông thường các khoản vay bằng USD có lãi suất khoảng từ 2,8% đến 3,8%/năm và lãi suất các khoản vay bằng VND khoảng 8,3%/năm; việc giải ngân bằng ngoại tệ phải dựa trên cơ sở Công ty có nguồn thu/dòng tiền về trả nợ bằng USD đồng thời Công ty phải có hồ sơ chứng minh mục đích sử dụng vốn bằng USD phù hợp theo quy chế cho vay…

OCB - Chi nhánh Đồng Nai đánh giá lại và nhận thấy Công ty Mây Việt hiện không đáp ứng điều kiện được giải ngân bằng USD theo quy định của OCB. Do đó, ngày 19/5/2021, OCB - Chi nhánh Đồng Nai giải ngân cho Công ty Mây Việt bằng VND (lãi suất khoảng 8,3%/năm).

Mức lãi suất nêu trên đã được Công ty chấp thuận trước khi áp dụng và phù hợp với chính sách cho vay của OCB tại từng thời điểm giải ngân.

Chi tiết câu hỏi:

Câu hỏi:

Theo phản ánh của ông Lê Đức Huy (Quảng Trị), Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất có quy định:

"Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi cấp Giấy chứng nhận lần đầu đối với đất do chuyển mục đích sử dụng từ đất không phải là đất ở sang đất ở do tách hộ đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo Danh mục các xã đặc biệt khó khăn do Thủ tướng Chính phủ quy định".

Thôn của ông Huy (thôn Khe Xong, thị trấn KrôngKlang) nằm trong danh sách thôn đặc biệt khó khăn (xã không phải xã đặc biệt khó khăn) được ban hành kèm theo Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ.

Ông Huy hỏi, thôn ông có được hưởng chính sách miễn tiền sử dụng đất theo quy định tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP hay không?

Trả lời:

Cục Thuế tỉnh Quảng Trị trả lời vấn đề này như sau:

Tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất có quy định:

Điều 11. Miễn tiền sử dụng đất

“…2. Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi cấp Giấy chứng nhận lần đầu đối với đất do chuyển mục đích sử dụng từ đất không phải là đất ở sang đất ở do tách hộ đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo Danh mục các xã đặc biệt khó khăn do Thủ tướng Chính phủ quy định”.

Tại Điều 1 Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020 thì địa bàn thị trấn KrôngKlang thuộc huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị nằm trong danh sách xã khu vực II, trong đó thôn Khe Xong là thôn vùng dân tộc thiểu số và miền núi nằm trong danh mục thôn, xã đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ.

Như vậy, đối chiếu với các quy định trên, thời điểm trước ngày 4/6/2021, thôn Khe Xong thuộc thị trấn KrôngKlang, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị được hưởng chính sách miễn tiền sử dụng đất theo quy định tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 và Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Chính phủ.

Trường hợp tiền sử dụng đất phát sinh kể từ ngày 4/6/2021 trở đi thì đối tượng được miễn, giảm tiền sử dụng đất áp dụng theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 4/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ mới ban hành (thay thế Quyết định số 582/QĐ-TTg) phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025.

Vậy, Cục Thuế tỉnh Quảng Trị trả lời cho ông Lê Đức Huy được biết.

Chi tiết câu hỏi:

Câu hỏi:

Năm 2020, do đại dịch covid-19 nên cơ quan tôi thường xuyên tổ chức các cuộc họp trực tuyến, để đáp ứng nhiệm vụ chính trị thì các xã trên địa bàn huyện có trang bị thêm một số thiết bị phục vụ cho họp trực tuyến như: Màn hinh; thiết bị điều khiển; âm ly; loa, micro; webcam hội nghị; hệ điều hành, cổng kết nối....

Theo Quy định tại khoản 1 Điều 7 Quyết định 50/2017/QĐ-TTg thì máy móc thiết bị phục vụ hoạt động chung của cơ quan, đơn vị bao gồm: Máy móc thiết bị trang bị tại các phòng phục vụ hoạt động chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Tuy nhiên khi thanh toán tại Kho bạc nhà nước huyện thì cho rằng đây là máy móc thiết bị chuyên dùng chứ không phải là máy móc thiết bị dùng chung, nên không đồng ý thanh toán vì nếu là máy móc thiết bị chuyên dùng thì phải đưa vào danh mục máy móc thiết bị chuyên dùng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Cho tôi hỏi, các thiết bị để lắp đặt cho phòng họp trực tuyền nêu trên là máy móc thiết bị dùng chung hay là máy móc thiết bị chuyên dùng? Máy móc, thiết bị nào là phục vụ hoạt động chung và loại nào là chuyên dùng?

Trả lời:

Trả lời:

Bộ Tài chính trả lời vấn đề này như sau:

Tại các Điều 7, 8, 10 Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg ngày 27/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị như sau:

(1) Về máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động chung

- Máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị gồm: (i) Máy móc, thiết bị trang bị tại các phòng phục vụ hoạt động chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị; (ii) Máy móc, thiết bị gắn với nhà, vật kiến trúc, công trình xây dựng và các máy móc, thiết bị khác phục vụ hoạt động chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị (khoản 1 Điều 7 Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg ).

- Về thẩm quyền quyết định việc trang bị máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị: Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, nhu cầu sử dụng, thiết kế xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp và nguồn kinh phí được phép sử dụng của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao, đầu tư, mua sắm, điều chuyển, thuê máy móc, thiết bị theo quy định của pháp luật quyết định việc trang bị máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại khoản 1 Điều Điều 7 Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả (khoản 2 Điều 7 Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg ).

(2) Về tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng

- Máy móc, thiết bị chuyên dùng: Máy móc, thiết bị chuyên dùng (trừ máy móc, thiết bị chuyên dùng trong lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo) là máy móc, thiết bị có yêu cầu về tính năng, dung lượng, cấu hình cao hơn máy móc, thiết bị văn phòng phổ biến và máy móc, thiết bị khác phục vụ nhiệm vụ đặc thù của cơ quan, tổ chức, đơn vị (điểm a khoản 1 Điều 8 Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg).

- Về thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng: (i)Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành hoặc phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng theo thẩm quyền quy định tại điểm b khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 8 Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với tính chất công việc, phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình; (ii) Trong thời gian Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa quy định chi tiết hướng dẫn theo điểm a khoản 2 Điều 8 Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg, bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lấy ý kiến bằng văn bản của Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo trước khi thực hiện điểm b khoản 2 Điều 8 Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg (Điều 8, Điều 10 Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg).

- Quyết định ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng được công khai trên cổng thông tin điện tử của bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và được gửi cơ quan Kho bạc nhà nước để thực hiện kiểm soát chi theo quy định của pháp luật (khoản 4 Điều 8 Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg).

Như vậy, pháp luật hiện hành đã quy định cụ thể về máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động chung và tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng của cơ quan, tổ chức, đơn vị; do đó, trường hợp quá trình thực hiện còn vướng mắc, đề nghị có báo cáo cụ thể, gửi cơ quan chức năng của địa phương để được xem xét, xử lý theo quy định.

Các khảo sát khác

Khảo sát thông tin về các vấn đề thuế - hải quan chuẩn bị Hội nghị Đối thoại Thuế - Hải quan 2021

Kết thúc: 15/11/2021

Câu hỏi: 0

Kết quả khảo sát