Gửi ý kiến theo hộp dưới đây hoặc liên hệ với chúng tôi

Chi tiết câu hỏi:

Theo ông Nguyễn Anh Tuấn tham khảo, Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 về một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch COVID-19; Nghị định số 92/2021/NĐ-CP ngày 27/10/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15, các doanh nghiệp vận tải sẽ được hưởng ưu đãi xuất hóa đơn cước vận chuyển giảm 30% thuế suất tức 70% x 10% thay vì 10%.

Tuy nhiên, hóa đơn vận chuyển của công ty ông Tuấn hiện tại đang được cấu thành bởi các chi phí có thuế suất là 10% gồm: Chi phí nâng hạ của cảng bãi, chi phí hải quan của cảng bãi, chi phí cơ sở hạ tầng của Sở Giao thông vận tải, chi phí dịch vụ làm hàng của doanh nghiệp, chi phí cước vận chuyển của doanh nghiệp (do cước vận chuyển của công ty ông không chỉ đơn thuần là cước xe chạy mà còn bao gồm các thành phần đã nêu trên, mà các thành phần đó lại chịu thuế suất 10%).

Đồng thời, các chi phí này là các chi phí không cố định nên khi bóc tách ra sẽ ảnh hưởng đến giá trị thực tế của cước vận chuyển đơn thuần trong tổng giá trị cước.

Ví dụ: Đơn giá nâng hạ của 1 container hàng ở mỗi một cảng bãi là biến số, dẫn đến cấu thành của giá vận tải nếu tách ra theo giá nâng hạ sẽ không cố định, vì vậy việc bóc tách là không thể.

Ông Tuấn hỏi, việc áp dụng thuế suất thuế GTGT ghi trên hóa đơn là 70% x 10% hay 10%? Trường hợp không thể bóc tách, ông xuất hóa đơn cước vận chuyển 10% thì hóa đơn có được coi là hợp lệ không? Nếu hóa đơn hợp lệ thì khách hàng của ông có được khấu trừ đủ 10% khi nhận hóa đơn hay không?

Trả lời:

Bộ Tài chính trả lời vấn đề này như sau:

Về nguyên tắc, đối với hoạt động vận tải của doanh nghiệp (không phân biệt có phương tiện trực tiếp vận tải hay không có phương tiện) thuộc Phụ lục I quy định danh mục hàng hóa, dịch vụ được giảm thuế GTGT (ban hành kèm theo Nghị định số 92/2021/NĐ-CP ngày 27/10/2021 của Chính phủ) được áp dụng giảm 30% thuế GTGT theo Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 ngày 19/10/2021 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đối với các hoạt động không thuộc Phụ lục I nêu trên thì không được áp dụng giảm 30% thuế GTGT.

Trường hợp công ty của ông cung cấp dịch vụ vận tải và các dịch vụ khác cho khách hàng (bên mua) mà không thể tách riêng được doanh thu từ hoạt động vận tải và doanh thu từ các hoạt động khác thì công ty lập hóa đơn GTGT với thuế suất 10% trên toàn bộ doanh thu cung cấp dịch vụ để giao cho bên mua.

Căn cứ hóa đơn GTGT đã lập, công ty kê khai thuế, nộp thuế đầu ra. Bên mua được kê khai khấu trừ thuế GTGT nếu đáp ứng đầy đủ nguyên tắc và điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Chi tiết câu hỏi:

Kính gửi Bộ tài chính, theo nghị định 15 về việc giảm thuế GTGT từ 10% còn 8% đối với một số mặt hàng. Cho tôi hỏi: TH1: Trường hợp cty tôi đi mua hàng và mặt hàng thuộc diện chịu thuế 8% nhưng bên nhà cung cấp lại xuất hóa đơn cho bên tôi thuế 10% (vì kế toán bên nhà cung cấp không xác định được rõ phần thuế của mặt hàng này có được giảm hay không nên vẫn để xuất thuế 10% cho đảm bảo an toàn về thuế của họ tránh bị truy thu xuất thiếu thuế). Như vậy trường hợp này bên cty tôi có được kê khai thuế 10% của hóa đơn này hay không, hay chỉ được kê thuế 8% còn lại 2% tiền thuế loại ra không được kê khai (cty tôi trả tiền thanh toán theo tổng tiền thuế 10% cho nhà cung cấp & bên nhà cung cấp không đồng ý xuất điều chỉnh tiền thuế). TH2: Cty tôi bán xe ô tô con và có phần dịch vụ sửa chữa xe cho khách hàng, vậy hóa đơn xuất ra nếu nội dung ghi: sửa chữa xe BKS:123 thì thuế kê khai là 8 hay 10%. Kính mong được sự phản hồi sớm ạ.

Trả lời:

- Căn cứ Điều 1 Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết 43/2022/QH15 về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội quy định như sau:

“Điều 1. Giảm thuế giá trị gia tăng

1. Giảm thuế giá trị gia tăng đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất 10%, trừ nhóm hàng hóa, dịch vụ sau:

a) Viễn thông, hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, kim loại và sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, sản phẩm khai khoáng (không kể khai thác than), than cốc, dầu mỏ tinh chế, sản phẩm hóa chất. Chi tiết tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

b) Sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Chi tiết tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.

c) Công nghệ thông tin theo pháp luật về công nghệ thông tin. Chi tiết tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.

d) Việc giảm thuế giá trị gia tăng cho từng loại hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng thống nhất tại các khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công, kinh doanh thương mại….

Trường hợp hàng hóa, dịch vụ nêu tại các Phụ lục I, II và III ban hành kèm theo Nghị định này thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng hoặc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng 5% theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng thì thực hiện theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và không được giảm thuế giá trị gia tăng.

2. Mức giảm thuế giá trị gia tăng

a) Cơ sở kinh doanh tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ được áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 8% đối với hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này.

...

5. Trường hợp cơ sở kinh doanh đã lập hóa đơn và đã kê khai theo mức thuế suất hoặc mức tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng chưa được giảm theo quy định tại Nghị định này thì người bán và người mua phải lập biên bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản ghi rõ sai sót, đồng thời người bán lập hóa đơn điều chỉnh sai sót và giao hóa đơn điều chỉnh cho người mua. Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh, người bán kê khai điều chỉnh thuế đầu ra, người mua kê khai điều chỉnh thuế đầu vào (nếu có).

…”

+ Tại Điều 3 quy định về hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện:

“1. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 02 năm 2022.

Điều 1 Nghị định này được áp dụng kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2022 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2022.

...”

- Căn cứ Phụ lục I, II, III danh mục hàng hóa, dịch vụ không được giảm thuế giá trị gia tăng ban hành kèm theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ.

- Căn cứ Quyết định số 43/2018/QĐ-TTg ngày 01/11/2018 của Chính phủ ban hành hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam.

Căn cứ các quy định trên, trường hợp Công ty Độc giả tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, cung cấp hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất GTGT 10% và không thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ quy định tại Phụ lục I, II, III ban hành theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ thì được áp dụng mức thuế suất thuế GTGT 8% theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ kể từ ngày 01/02/2022 đến hết ngày 31/12/2022. Hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ theo quy định tại Phụ lục I, II, III ban hành kèm theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/1/2022 của Chính Phủ thì không thuộc đối tượng được giảm thuế GTGT theo quy định tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 15/2022/NĐ-CP của Chính Phủ.

Đối với hàng hóa, dịch vụ được giảm thuế GTGT theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP, cơ sở kinh doanh đã lập hóa đơn và đã kê khai theo mức thuế suất hoặc mức tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng chưa được giảm thì người bán và người mua thực hiện theo hướng dẫn tại Khoản 5 Điều 1 Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ.

Đề nghị Độc giả căn cứ tình hình thực tế hàng hóa, dịch vụ Công ty Độc giả cung cấp, đối chiếu với các Phụ lục I, II, III ban hành kèm theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/1/2022 của Chính Phủ để xác định hàng hóa, dịch vụ được giảm thuế, không được giảm thuế đúng quy định.

Trong quá trình thực hiện nếu còn vướng mắc, đề nghị Độc giả cung cấp hồ sơ liên quan đến vướng mắc và liên hệ với cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn cụ thể.

Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính.

Chi tiết câu hỏi:

Công ty là doanh nghiệp sản xuất phần mềm có trụ sở chính tại Hà Nội và hai chi nhánh phụ thuộc tại Đà Nẵng và Hồ Chí Minh, hiện đang được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo ngành nghề. Theo quy định trước đây thuế TNDN phải nộp được phân chia theo tỷ lệ chi phí các nơi. Theo quy định mới thì thuế TNDN phải tách riêng hoạt động ưu đãi và không hưởng ưu đãi. Trong đó hoạt động ưu đãi cần theo dõi được doanh thu – chi phí phát sinh để tính riêng thuế phải nộp cho địa bàn của chi nhánh. Do công ty không theo dõi được doanh thu riêng, các chi nhánh phải hạch toán phụ thuộc. Vậy với thay đổi như thế này, công ty sẽ xác định doanh thu của hoạt động hưởng ưu đãi ba nơi như thế nào, do tính chất công việc lập trình, các bạn ở ba nơi vẫn cùng tham gia dự án chung.

Trả lời:

Trường hợp doanh nghiệp có chi nhánh phụ thuộc khác tỉnh có thu nhập được hưởng ưu đãi thuế TNDN thì khai thuế thu nhập doanh nghiệp tại nơi có chi nhánh phụ thuộc có thu nhập được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Trong thời gian đang được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nếu doanh nghiệp thực hiện nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh thì doanh nghiệp phải tính riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (bao gồm mức thuế suất ưu đãi, mức miễn thuế, giảm thuế) và thu nhập từ hoạt động kinh doanh không được hưởng ưu đãi thuế để kê khai nộp thuế riêng.

Trường hợp trong kỳ tính thuế, doanh nghiệp không tính riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế và thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh không được hưởng ưu đãi thuế thì phần thu nhập của hoạt động sản xuất kinh doanh ưu đãi thuế xác định bằng (=) tổng thu nhập tính thuế nhân (x) với tỷ lệ phần trăm (%) doanh thu hoặc chi phí được trừ của hoạt động sản xuất kinh doanh ưu đãi thuế so với tổng doanh thu hoặc tổng chi phí được trừ của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế.

Trường hợp có khoản doanh thu hoặc chi phí được trừ không thể hạch toán riêng được thì khoản doanh thu hoặc chi phí được trừ đó xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu hoặc chi phí được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh hưởng ưu đãi thuế trên tổng doanh thu hoặc chi phí được trừ của doanh nghiệp.

Theo Cổng thông tin điện tử Tổng cục thuế.

Chi tiết câu hỏi:

Gia đình tôi mắc COVID-19 vào tháng 2/2022. Vợ chồng tôi đều là lao động tự do, con trai còn đi học cấp 1. Xin hỏi, gia đình tôi có được hưởng trợ cấp do COVID-19 không? Nếu được thì cần làm những thủ tục gì?

Trả lời:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP. Hà Nội trả lời vấn đề này như sau:

UBND TP. Hà Nội triển khai thực hiện một số chính sách hỗ trợ đối tượng bị ảnh hưởng, gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, trong đó:

Quyết định số 3642/QĐ-UBND ngày 21/7/2021 của UBND TP. Hà Nội quy định hỗ trợ đối với người lao động chấm dứt hợp đồng lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động ngừng việc, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương, người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm (lao động tự do)…

Quyết định số 5073/QĐ-UBND ngày 2/12/2021 của UBND TP. Hà Nội sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quyết định số 3642/QĐ-UBND ngày 21/7/2021 về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 trên địa bàn TP. Hà Nội.

Đối với người bị mắc COVID-19 từ năm 2022 hiện chưa có chính sách hỗ trợ, do đó trường hợp của gia đình bà Phí Thị Hoàng Yến không có chế độ trợ cấp.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Chi tiết câu hỏi:

Anh trai của ông Bùi Văn Phương (Tiền Giang) mắc COVID-19 (F0). Sau khi hoàn thành cách ly, ngày 2/3/2022, anh trai ông đến cơ quan có thẩm quyền nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ nhưng được thông báo đã hết hạn nhận hồ sơ. Ông Phương hỏi, trả lời của cơ quan chức năng có đúng không?

Trả lời:

Về vấn đề này, Sở Lao động –Thương binh và Xã hội tỉnh Tiền Giang trả lời như sau:

Theo quy định tại Điểm b, Khoản 5, Điều 27 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 7/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ: "Đối với trường hợp F0, F1 đã kết thúc điều trị, hoàn thành cách ly tại cơ sở hoặc cách ly tại nhà: Cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp của trẻ em, các trường hợp F0, F1 gửi hồ sơ quy định tại Khoản 3, 4 Điều này tới UBND cấp xã nơi cư trú. Thời hạn tiếp nhận hồ sơ chậm nhất đến hết ngày 31/1/2022".

Để người dân được biết điều kiện được hỗ trợ, hồ sơ, trình tự thủ tục, nơi tiếp nhận hồ sơ và thời gian kết thúc gói hỗ trợ và đối tượng được hưởng chế độ hỗ trợ theo quy định, Đài Truyền thanh - Truyền hình TP. Mỹ Tho, UBND Phường 2 thông báo thường xuyên trên hệ thống Đài Truyền thanh - Truyền hình Thành phố và phường, xã thông báo thời gian nhận hồ sơ hỗ trợ cho các đối tượng F0, F1 đã kết thúc điều trị, hoàn thành cách ly tại cơ sở hoặc cách ly tại nhà chậm nhất đến ngày 15/1/2021.

Vào ngày 15/2/2022, theo nội dung Công văn số 696/SYT-HTC ngày 13/2/2022 của Sở Y tế về việc nhắc gửi hồ sơ thanh toán kinh phí hỗ trợ đối với trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người đang điều trị COVID-19 và cách ly y tế, Trạm Y tế Phường 2 tiếp tục gia hạn thời gian nhận hồ sơ "từ ngày ra thông báo đến ngày 28/2/2022. Sau thời gian nêu trên, Trạm Y tế sẽ không tiếp nhận hồ sơ, chờ thông báo mới".

Việc tiếp nhận hồ sơ hỗ trợ đối với trường hợp F0, F1 đã kết thúc điều trị, hoàn thành cách ly tại cơ sở đã kết thúc vào ngày 15/1/2022 và gia hạn đến hết ngày 28/2/2022, tuy nhiên ngày 2/3/2022 người thân của ông Bùi Văn Phương đến nộp hồ sơ đã quá thời hạn nêu trên nên Trạm Y tế Phường 2 không tiếp nhận giải quyết hồ sơ.

Theo Báo Chính phủ.

Chi tiết câu hỏi:

1. Bà Mai Thu Sang (Lâm Đồng): Trong năm 2021, thu nhập của ông A tại đơn vị được tính thuế luỹ tiến (viên chức), tuy nhiên ông A có thu nhập từ việc làm đề tài nghiên cứu của Sở, do đơn vị chi hộ và đã được khấu trừ thuế 10% tại nguồn, đơn vị đã kê khai thuế cho phần thu nhập này.

Vậy, khi lên tờ khai quyết toán, thu nhập từ đề tài nghiên cứu của ông A được đưa vào bảng nào trên tờ khai quyết toán thuế TNCN?

2. Ông Lâm Thanh (Thanh Hóa): Trường hợp người lao động có thu nhập chịu thuế từ 2 tổ chức là các công ty con trong cùng tập đoàn. Trong đó, người lao động ký hợp đồng lao động với tổ chức A và thu nhập tại tổ chức này là thu nhập tính thuế lũy tiến, người lao động ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức B và thu nhập tại đơn vị này là thu nhập khấu trừ thuế vãng lai (10%). Như vậy người lao động này có đủ điều kiện để ủy quyền cho tổ chức A quyết toán thuế hay không?

3. Bà Trịnh Hồng Thắm (Hà Nội): Cá nhân có thu nhập hai nơi, một nơi ký hợp đồng lao động chính thức khấu trừ theo biểu thuế luỹ tiến từng phần, nơi thứ 2 đã khấu trừ 10% trên thu nhập. Vậy cá nhân này có thuộc diện tự quyết toán thuế TNCN hay không?

4. Ông Trần Mạnh Hùng (TPHCM): Tôi đang công tác tại chi nhánh của 1 ngân hàng TMCP. Trong năm 2021, tôi chỉ phát sinh thu nhập tiền lương tiền công tại chi nhánh. Đồng thời trong năm 2021, tôi có được tặng 1 huy hiệu bằng vàng từ Trụ sở chính ngân hàng, tiền huy hiệu đó chưa khấu trừ thuế. Kế toán giải thích, trong trường hợp này tôi phải tự quyết toán thuế TNCN. Xin hỏi, chi nhánh có được quyết toán thuế luôn phần thu nhập và thuế mà trụ sở chính đã tạm trích hay không?

Trong trường hợp tôi đã ủy quyền quyết toán thuế, số thuế phải nộp thêm tôi đã nộp đủ (tính cả phần thu nhập phát sinh thêm từ trụ sở chính), nếu thuế kiểm tra thấy tôi phải tự đi quyết toán, thì khi đi nộp tờ khai lại tôi có bị phạt gì không?

Trả lời:

1. Tổng cục Thuế trả lời: Căn cứ Tiết d.3 Điểm d Khoản 6 Điều 6 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

2. Tổng cục Thuế trả lời: Theo quy định tại Tiết d.2 Điểm d Khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm dương lịch; đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

Theo đó, trường hợp người lao động có thu nhập từ hai nơi trở lên mà thu nhập vãng lai ở nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% thì có thể ủy quyền quyết toán thuế TNCN cho tổ chức A.

3. Tổng cục Thuế trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ hai nơi trở lên mà không đáp ứng điều kiện được ủy quyền quyết toán theo quy định thì phải trực tiếp khai quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo.

Đối với trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

Theo đó, nếu thu nhập vãng lai ở nơi thứ 2 của bà bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% mà bà không có yêu cầu thì bà có thể ủy quyền quyết toán cho tổ chức trả thu nhập mà bà ký hợp đồng lao động chính thức và không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập tại nơi thứ 2 được khấu trừ theo tỷ lệ 10%.

4. Tổng cục Thuế trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ hai nơi trở lên mà không đáp ứng điều kiện được ủy quyền quyết toán theo quy định thì phải trực tiếp khai quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo.

Đối với trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

Theo đó, nếu phần thu nhập chịu thuế nhận được từ trụ sở chính của ông bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% mà ông không có yêu cầu thì ông có thể ủy quyền quyết toán cho chi nhánh và không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập từ trụ sở chính được khấu trừ theo tỷ lệ 10%.

Trường hợp thu nhập chịu thuế nhận được từ trụ sở chính của ông bình quân tháng trong năm trên 10 triệu đồng, ông thuộc diện phải trực tiếp quyết toán thuế TNCN. Trường hợp trụ sở chính chưa thực hiện khấu trừ thuế 10% thì ông không thuộc diện được ủy quyền quyết toán thuế cho chi nhánh.

Cá nhân sau khi đã ủy quyền quyết toán thuế, tổ chức trả thu nhập đã thực hiện quyết toán thuế thay cho cá nhân, nếu phát hiện cá nhân thuộc diện trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế thì tổ chức trả thu nhập không điều chỉnh lại quyết toán thuế TNCN của tổ chức trả thu nhập, chỉ cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân theo số quyết toán và ghi vào góc dưới bên trái của chứng từ khấu trừ thuế nội dung: "Công ty … đã quyết toán thuế TNCN thay cho Ông/Bà …. (theo ủy quyền) tại dòng (số thứ tự) … của Phụ lục Bảng kê 05-1/BK-TNCN" để cá nhân trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế.

Theo Báo Chính phủ.

Chi tiết câu hỏi:

Tháng 12/2021, gia đình ông Huỳnh Đức Tài (xã Đa Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh) có 4 người mắc COVID-19 (F0), 2 người thuộc diện tiếp xúc gần (F1), có quyết định cách ly và hết thời gian cách ly do UBND xã ký.

Gia đình ông Tài đã nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ tại bộ phận một cửa của UBND xã, sau đó vài ngày đã bổ sung hồ sơ theo hướng dẫn của cán bộ xã. Sau một khoảng thời gian, UBND xã thông báo nhận tiền nhưng gia đình ông chỉ có 2 người được nhận là bà Nhan Thị Chịa và bà Sơn Thị Kim Cương, những người còn lại, cán bộ xã cho biết hồ sơ không đủ và yêu cầu bổ sung.

Ông Tài muốn được biết lý do gia đình ông không được nhận đủ hỗ trợ cho 6 người như hồ sơ đã nộp.

Trả lời:

Về vấn đề này, UBND huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh trả lời như sau:

Theo báo cáo của UBND xã Đa Lộc, ngày 19/12/2021, Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh COVID-19 xã có Quyết định số 823/QĐ-BCĐ về việc áp dụng biện pháp cách ly, điều trị theo dõi sức khỏe tại nhà đối với người tiếp xúc với người nhiễm COVID-19 gồm 4 người (bà Huỳnh Thị Dõi, ông Huỳnh Đức, bà Sơn Thị Kim Cương, bà Nhan Thị Chịa); Quyết định số 819/QĐ-BCĐ về việc áp dụng biện pháp cách ly, điều trị theo dõi sức khỏe tại nhà đối với người tiếp xúc với người nhiễm COVID-19 gồm 2 người (ông Huỳnh Đức Tài, ông Huỳnh Đức Mạnh).

Khi tiếp nhận hồ sơ thì UBND xã Đa Lộc chỉ nhận đủ hồ sơ của 2 người (bà Sơn Thị Kim Cương và bà Nhan Thị Chịa); 4 người chưa nộp đầy đủ hồ sơ (bà Huỳnh Thị Dõi và ông Huỳnh Đức, ông Huỳnh Đức Tài, ông Huỳnh Đức Mạnh).

Ngay sau đó, UBND xã Đa Lộc có liên hệ và yêu cầu bổ sung hồ sơ, nhưng khi ông Huỳnh Đức Tài bổ sung đủ hồ sơ thì đã quá thời gian trình phê duyệt theo quy định. Sau đó, UBND xã Đa Lộc mời ông Huỳnh Đức Tài lên trao đổi, ông Huỳnh Đức Tài thống nhất với UBND xã và không có khiếu nại về sau.

Về thực hiện cấp phát kinh phí hỗ trợ: UBND xã Đa Lộc chỉ đạo bộ phận chuyên môn không cho nhận thay, nếu có nhận thay thì phải có giấy ủy quyền.

Đến thời điểm cấp kinh phí thì bà Nhan Thị Chịa đã qua đời nên kinh phí hỗ trợ chưa cấp phát. Riêng trường hợp bà Sơn Thị Kim Cương đã nhận kinh phí hỗ trợ.

Theo Báo Chính phủ.

Chi tiết câu hỏi:

Ông Kim Vô làm công nhân tại Khu Công nghiệp Tân Đức, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An. Ông và nhiều công nhân khác vẫn chưa nhận được hỗ trợ đối với người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Ông Vô hỏi, ông phải làm gì để được giải quyết hỗ trợ?

Trả lời:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Long An trả lời vấn đề này như sau:

Theo quy định tại Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 1/7/2021 của Chính phủ và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 7/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do dịch COVID-19, người lao động làm việc tại doanh nghiệp bị tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 có thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động (theo Điểm h Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Lao động) hoặc hai bên thỏa thuận nghỉ việc không hưởng lương (theo Khoản 3 Điều 115 Bộ luật Lao động) trong thời hạn của hợp đồng lao động từ 15 ngày liên tục trở lên, tính từ ngày 01 tháng 5 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021, đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tính đến thời điểm ngay trước khi tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương được hỗ trợ một lần như sau: Từ 15 ngày liên tục trở lên đến dưới 1 tháng mức 1.855.000 đồng/người; từ 1 tháng trở lên mức 3.710.000 đồng/người.

Để người lao động được hưởng chính sách này, người sử dụng lao động phải làm hồ sơ theo quy định tại Quyết định 23/2021/QĐ-TTg và Quyết định 33/2021/QĐ-TTg gồm:

- Bản sao văn bản thỏa thuận tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương.

- Danh sách người lao động có xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội theo Mẫu số 05 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này.

- Bản sao một trong các giấy tờ sau: Giấy tờ chứng minh người lao động đang mang thai; Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng sinh của trẻ em; Giấy chứng nhận nuôi con nuôi; Quyết định giao, nhận chăm sóc thay thế trẻ em của cơ quan có thẩm quyền đối với đối tượng được quy định tại Khoản 2 Điều 14 Quyết định này.

Như vậy, để hưởng chính sách hỗ trợ người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương thì người lao động không thể tự làm hồ sơ đăng ký mà phải do người sử dụng lao động lập hồ sơ đề nghị. Đề nghị ông liên hệ với công ty đang làm việc để yêu cầu công ty lập hồ sơ đề nghị hỗ trợ.

Chi tiết câu hỏi:

Bà Đặng Thị Tuyết Nhung (Bến Tre) buôn bán nước chai ướp lạnh ở ven đường, mỗi tháng thu nhập 2 triệu đồng. Do ảnh hưởng dịch, bà mất thu nhập. Bà đã làm đơn xin hỗ trợ nhưng được báo không đủ điều kiện. Bà đề nghị chính quyền địa phương xem xét giúp đỡ.

Trả lời:

Về vấn đề này, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre trả lời như sau:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã đề nghị UBND thị trấn Ba Tri rà soát về trường hợp của bà Nhung. Được biết, công việc của bà Nhung là bán tập vở, viết, khăn ướt… ngay tại nhà, ngoài ra còn có 1 tủ mát và 1 thùng nước ướp lạnh để trước cửa nhà để bán cho khách đi đường.

Theo quy định tại Quyết định số 25/2021/QĐ-UBND ngày 13/8/2021 của UBND tỉnh Bến Tre về việc hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh thì công việc của bà Nhung “buôn bán nhỏ lẻ có địa điểm cố định” nên không thuộc nhóm công việc, lĩnh vực được hỗ trợ. Khi nào có chính sách mới, địa phương sẽ thông báo rộng rãi cho người dân biết để kê khai theo quy định.

Chi tiết câu hỏi:

Hợp tác xã do ông Lê Việt Cường (Hà Nội) sáng lập để tạo việc làm cho người khuyết tật. Hợp tác xã có 22 lao động, trong đó có 8 người khuyết tật thành nghề và có việc làm, thu nhập ổn định, đóng BHXH; 14 người đang học nghề và được hỗ trợ tiền học nghề.

Do đại dịch COVID-19, chuỗi cung ứng bị đứt gãy, hợp tác xã tạm ngưng hoạt động từ ngày 1/5/2021 và người lao động cũng bị dừng đóng BHXH đến nay.

Ông Cường đã làm hồ sơ xin trợ cấp cho 8 lao động đang đóng BHXH theo Nghị quyết số 68/NQ-CP, nhưng cơ quan chức năng trả lời không được vì hợp tác xã tạm ngưng từ tháng 5/2021 do khó khăn, không phải do cơ quan chức năng yêu cầu. Đối tượng được hưởng chính là đối tượng bị ảnh hưởng do giãn cách theo Chỉ thị số 17/CT-UBND của UBND TP. Hà Nội tính từ ngày 24/7/2021. Ông Cường hỏi, như vậy có đúng không?

Trả lời:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP. Hà Nội trả lời vấn đề này như sau:

Các cơ sở kinh doanh dịch vụ phải đóng cửa, tạm dừng hoạt động, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất không bảo đảm phương án sản xuất an toàn về phòng chống dịch phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Chỉ thị số 17/CT-UBND ngày 23/7/2021 của Chủ tịch UBND TP. Hà Nội về thực hiện cách ly toàn xã hội trên phạm vi toàn Thành phố để phòng chống dịch COVID-19 được xem xét thực hiện hỗ trợ theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Các đơn vị, doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 tự dừng hoạt động (không phải theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc không nằm trong khu vực bị cách ly y tế) dẫn đến người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương theo quy định hiện nay thì không thuộc đối tượng xem xét giải quyết hỗ trợ theo Nghị quyết số 68/NQ-CP, Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Để biết thêm thông tin chi tiết ông có thể liên hệ với UBND quận, huyện, thị xã nơi cư trú hoặc gọi tới Tổng đài điện thoại 1022 - bấm phím số 5 hoặc số 6 (chọn nhánh 5 hoặc 6) để được giải đáp, hướng dẫn.

Các khảo sát khác

Khảo sát thông tin về các vấn đề thuế - hải quan chuẩn bị Hội nghị Đối thoại Thuế - Hải quan 2021

Kết thúc: 15/11/2021

Câu hỏi: 0

Kết quả khảo sát