Gửi ý kiến theo hộp dưới đây hoặc liên hệ với chúng tôi

Chi tiết câu hỏi:

Đơn vị tôi đang quản lý 1 gói thầu có giá trị 413,8 tỷ đồng. Tỷ lệ nhà thầu phụ quy định trong hồ sơ dự thầu là 10%. Nhà thầu trúng thầu đã đề xuất 2 nhà thầu phụ trong hồ sơ dự thầu với tổng giá trị là 25 tỷ đồng tương đương với 6% giá hợp đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhà thầu trúng thầu đề xuất bổ sung 2 nhà thầu phụ ngoài danh sách đề xuất trong hồ sơ dự thầu và đã được chủ đầu tư chấp thuận với tổng giá trị là 16,8 tỷ đồng. Tổng giá trị các nhà thầu phụ lúc này là 10% giá trị hợp đồng.

Sau đó, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, tiến độ gói thầu chậm so với hợp đồng đã ký, nhà thầu tiếp tục đề nghị bổ sung 1 đơn vị với giá trị đề nghị bổ sung là 15 tỷ đồng.

Như vậy, tổng giá trị thực hiện của các nhà thầu phụ bổ sung ngoài danh sách đề xuất trong hồ sơ dự thầu là 31,8 tỷ đồng, tương đương với 8,18% giá trị hợp đồng (sau khi trừ đi phần công việc thuộc trách nhiệm của các nhà thầu phụ đã được đề xuất trong hồ sơ dự thầu).

Tôi xin hỏi, vậy việc bổ sung 1 đơn vị với giá trị bổ sung là 15 tỷ đồng nêu trên có vi phạm quy định tại Khoản 8 Điều 89 Luật Đấu thầu hay không? Trường hợp chủ đầu tư xem xét, điều chuyển phần khối lượng 15 tỷ đồng này và ký hợp đồng trực tiếp với đơn vị là có phù hợp với quy định hay không?

Trả lời:

Trả lời:

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời vấn đề này như sau:

Theo quy định tại Điểm b Khoản 8 Điều 89 Luật Đấu thầu, một trong các hành vi bị cấm trong đấu thầu là chủ đầu tư, tư vấn giám sát chấp thuận để nhà thầu chuyển nhượng công việc thuộc trách nhiệm thực hiện của nhà thầu, trừ phần công việc thuộc trách nhiệm của nhà thầu phụ đã kê khai trong hợp đồng.

Theo hướng dẫn tại Mục 29.2 Chương I Mẫu hồ sơ mời thầu xây lắp một giai đoạn hai túi hồ sơ ban hành kèm theo Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 6/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi tiết lập hồ sơ mời thầu xây lắp, nhà thầu chính không được sử dụng nhà thầu phụ cho công việc khác ngoài công việc đã kê khai sử dụng nhà thầu phụ nêu trong hồ sơ dự thầu.

Việc thay thế, bổ sung nhà thầu phụ ngoài danh sách các nhà thầu phụ đã nêu trong hồ sơ dự thầu và việc sử dụng nhà thầu phụ vượt quá tỷ lệ theo quy định tại Mục 31.2 CDNT chỉ được thực hiện khi có lý do xác đáng, hợp lý và được chủ đầu tư chấp thuận.

Trường hợp sử dụng nhà thầu phụ cho công việc khác ngoài công việc đã kê khai sử dụng nhà thầu phụ, ngoài danh sách các nhà thầu phụ đã nêu trong hồ sơ dự thầu mà chưa được chủ đầu tư chấp thuận được coi là hành vi “chuyển nhượng thầu”.

Theo đó, việc quản lý, sử dụng nhà thầu phụ phải tuân thủ quy định nêu trên.

Chi tiết câu hỏi:

Câu hỏi:

Đề nghị làm rõ đối tượng bán hàng rong những mặt hàng nào và bán ở đâu sẽ được hỗ trợ do Covid-19? Người đi nhặt ve chai, phế liệu nhỏ lẻ để bán có được hỗ trợ không?

Trả lời:

Trả lời:

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội trả lời vấn đề này như sau:

Bán hàng rong, buôn bán nhỏ lẻ không có địa điểm cố định là người buôn bán nhỏ lẻ, không có địa điểm cố định các mặt hàng:

- Lương thực, thực phẩm, đồ uống thuốc lá, thuốc lào

- Hàng dệt, may sẵn, giày, dép

- Thiết bị gia đình (khóa cửa, thảm, chăn, màn, rèm, khăn, dao kéo, thiết bị, đồ dùng gia dụng khác)

- Đồ thờ cúng, vàng mã và hàng hóa phục vụ mục đích tín ngưỡng

- Hàng văn hóa, giải trí (sách, báo, tạp chí, đĩa nhạc và video, thiết bị dụng cụ thể dục thể thao, trò chơi và đồ chơi)

- Hàng gốm sứ, thủy tinh

- Hoa tươi, hoa giả, cây cảnh, động vật cảnh

- Hàng lưu niệm, hàng đan lát, hàng thủ công mỹ nghệ

- Hàng hóa sử dụng để lau chùi, quét dọn, làm vệ sinh

- Đồng hồ, kính mắt…

Điểm c Khoản 1 Điều 7 Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg quy định một trong những điều kiện hỗ trợ đối với người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm là người lao động làm một trong những công việc thuộc lĩnh vực phi nông nghiệp, trong đó có công việc “thu gom rác, phế liệu”.

Đề nghị công dân đối chiếu các quy định tại Khoản 1 Điều 7 Quyết định số số 15/2020/ QĐ-TTg để thực hiện.

Chi tiết câu hỏi:

Câu hỏi:

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên công ty của tôi muốn báo giảm lao động vì không hoạt động được. Vậy, công ty tôi muốn báo giảm từ tháng 3 đến tháng 6 có được không?

Trả lời:

BHXH Việt Nam trả lời vấn đề này như sau:

Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 21, Khoản 3 Điều 85, Khoản 4 Điều 86, Khoản 1 Điều 98 Luật BHXH năm 2014, hàng tháng người sử dụng lao động (doanh nghiệp) có trách nhiệm đóng BHXH bắt buộc theo mức đóng quy định và trích từ tiền lương của người lao động theo mức đóng quy định để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH; người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng: Người sử dụng lao động và người lao động không đóng BHXH tháng đó; khi có thay đổi thông tin tham gia BHXH, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản với cơ quan BHXH.
Đề nghị bà đối chiếu quy định nêu trên để thực hiện theo đúng quy định.

Chi tiết câu hỏi:

  DN của tôi vẫn có doanh thu quý 1/2020= 30 tỷ. Theo quy định tại khoản 3 điều 1, chương I, QĐ số 15 có ghi: "3. Làm việc tại các doanh nghiệp không có doanh thu hoặc không còn nguồn tài chính để trả lương (sau khi đã sử dụng các quỹ dự phòng tiền lương, nguồn lợi nhuận sau thuế và các nguồn tài chính hợp pháp khác của doanh nghiệp, số dư đến 31/3/2020) do ảnh hưởng bởi dịch covid-19."

  Xin hỏi: Như vậy doanh nghiệp của tôi có được hỗ trợ người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc nghỉ việc không hưởng lương không?

Trả lời:

  Cục Quan hệ lao động và Tiền lương có ý kiến như sau:

  1. Chính phủ ban hành Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2020 về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, trong đó nguyên tắc hỗ trợ là Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc bảo đảm cuộc sống cho người lao động.

  2. Theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg thì người lao động được hỗ trợ khi làm việc tại các doanh nghiệp không có doanh thu hoặc không còn nguồn tài chính để trả lương (sau khi đã sử dụng các quỹ dự phòng tiền lương, nguồn lợi nhuận sau thuế và các nguồn tài chính hợp pháp khác của doanh nghiệp, số dư đến ngày 31 tháng 3 năm 2020) do ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19.

  3. Báo cáo tài chính năm 2019, quý I năm 2020 và các giấy tờ chứng minh tài chính khác theo mẫu số 15 quy định trên Cổng Dịch vụ công quốc gia hướng dẫn thẩm định tài chính của doanh nghiệp thì doanh nghiệp đề nghị hỗ trợ cho người lao động bị tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc nghỉ việc không hưởng lương đáp ứng điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 1 Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg nếu thuộc 1 trong 2 trường hợp sau:

  * Trường hợp 1: Tổng doanh thu Quý I/2020 bằng Không.

  * Trường hợp 2: Đảm bảo đủ các điều kiện sau:

  (1) Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp Quý I/2020 không lớn hơn Không;

  (2) Quỹ dự phòng tiền lương tại thời điểm ngày 31/3/2020 bằng Không;

  (3) Tiền và các khoản tương đương tiền tại thời điểm ngày 31/3/2020 nhỏ hơn Phải trả

Chi tiết câu hỏi:

  Doanh nghiệp gặp khó khăn, nên chúng tôi thỏa thuận luân phiên nghỉ không lương với người lao động. Vậy trường hợp này có đóng bảo hiểm cho người lao động không?

Trả lời:

  Theo hướng dẫn tại Quyết định 595/QĐ-BHXH về Quy trình thu BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT:
  "Điều 42. Quản lý đối tượng
...
  4. Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng BHXH."
  Theo đó, thỏa thuận nghỉ luân phiên có hai trường hợp:
  - Nếu vẫn trả lương ngừng việc cho những ngày nghỉ thì vẫn đóng bảo hiểm như bình thường, vì những ngày nghỉ này người lao động có hưởng lương ở công ty (chỉ là có thể ở mức thấp hơn).
  - Nếu thỏa thuận với người lao động những ngày nghỉ này là ngày nghỉ không lương, thì NSDLĐ xem lại tổng số ngày nghỉ và không hưởng lương trong tháng, nếu từ 14 ngày trở lên thì tháng đó không phải đóng bảo hiểm.
Nguồn: Thư viện pháp luật

Trả lời:

Câu hỏi:
  Công ty có người lao động đi du lịch Đà Nẵng về, họ được yêu cầu phải cách ly tại nhà. Cho tôi hỏi là công ty tôi có phải trả lương cho người lao động này không? Vì lỗi không xuất phát từ công ty?
Trả lời:
  Theo hướng dẫn tại Công văn 1064/LĐTBXH-QHLĐTL năm 2020 về hướng dẫn trả lương ngừng việc và giải quyết chế độ cho người lao động trong thời gian ngừng việc liên quan đến dịch bệnh Covid-19 do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành:
  "2. Đối với trường hợp người lao động phải ngừng việc do tác động trực tiếp của dịch Covid-19 như: (i) lao động là người nước ngoài trong thời gian chưa được quay trở lại doanh nghiệp làm việc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; (ii) người lao động phải ngừng việc trong thời gian thực hiện cách ly theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền... thì tiền lương của người lao động trong thời gian ngừng việc thực hiện theo khoản 3 Điều 98 Bộ luật Lao động (tiền lương do hai bên thỏa thuận nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định)."
  Theo đó, việc người lao động ngừng việc là do tác động trực tiếp của dịch Covid và người lao động này cách ly theo yêu cầu của người có thẩm quyền, do đó, công ty phải trả lương ngừng việc theo hướng dẫn trên.
Nguồn: Thư viện pháp luật

Trả lời:

Câu hỏi:
  Công ty tôi có ủng hộ một khoản tiền, khẩu trang để phòng, chống Covid-19. Vậy những khoản này có được tính là chi phí hợp lý được trừ khi tính thuế TNDN hay không?
Trả lời:
  Tại Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020, trong phần các nhiệm vụ, giải pháp thuộc thẩm quyền của Chính phủ, để tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, có nội dung:
  "Cho phép các khoản đóng góp, ủng hộ trong các hoạt động chống dịch Covid-19 là khoản chi phí hợp lý được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp".
  Vừa qua, tại Nghị quyết 149/NQ-CP ngày 10/10/2020 phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9/2020, Chính phủ thống nhất đề nghị của Bộ Tài chính về việc báo cáo Quốc hội cho phép coi các khoản đóng góp, ủng hộ trong các hoạt động chống dịch COVID-19 là khoản chi phí hợp lý được trừ khi tính thuế TNDN.
  Giao Bộ trưởng Bộ Tài chính thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ báo cáo Quốc hội nội dung này.
  Như vậy, Chính phủ đã thống nhất khoản đóng góp, ủng hộ Covid-19 là chi phí được trừ khi tính thuế TNDN. Nội dung này sẽ được trình Quốc hội xem xét, quyết định trong kỳ họp thứ 10 tới đây.
Nguồn: Thư viện pháp luật

Trả lời:

Câu hỏi:
  Trước đây do tình hình dịch bệnh Covid-19, đơn vị cần mua gấp gạo hỗ trợ người dân vùng cách ly, giá trị gạo cần hỗ trợ là 22 tỷ đồng từ nguồn tiền vận động hỗ trợ. Để kịp thời hỗ trợ mua sắm gạo cho nhân dân khó khăn, hộ nghèo và cận nghèo và ở vùng cách ly, đơn vị đã căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 22 Luật Đấu thầu để mua sắm gạo theo hình thức chỉ định thầu. Tôi xin hỏi, đơn vị tôi thực hiện như vậy có phù hợp không?
Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời vấn đề này như sau:
  Điểm a Khoản 1 Điều 22 Luật Đấu thầu quy định một trong các trường hợp được áp dụng hình thức chỉ định thầu là gói thầu cần thực hiện để khắc phục ngay hoặc để xử lý kịp thời hậu quả gây ra do sự cố bất khả kháng; gói thầu cần thực hiện để bảo đảm bí mật Nhà nước; gói thầu cần triển khai ngay để tránh gây nguy hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của cộng đồng dân cư trên địa bàn hoặc để không ảnh hưởng nghiêm trọng đến công trình liền kề; gói thầu mua thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế để triển khai công tác phòng, chống dịch bệnh trong trường hợp cấp bách được áp dụng hình thức chỉ định thầu.
  Theo đó, nếu gói thầu mà bà Trâm đề cập thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 22 Luật Đấu thầu nêu trên thì được áp dụng hình thức chỉ định thầu.
  Người có thẩm quyền chịu trách nhiệm phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu theo quy định tại Khoản 1, Điều 73 Luật Đấu thầu.

Trả lời:

  Công văn số 2600/BCT-KHCN ngày 13 tháng 4 năm 2020 của Bộ Công Thương về việc hướng dẫn công bố hợp quy đối với sản phẩm dệt may trả lời như sau:
  1.1. Việc xác định mã hàng hóa
  Sản phẩm khẩu trang vải thông thường và khẩu trang vải kháng khuẩn (gọi chung là khẩu trang vải) thuộc dòng sản phẩm dệt may có mã HS 6214 (Khăn choàng, khăn quàng cổ, khăn choàng rộng đội đầu, khăn choàng vai, mạng che và các loại tương tự) được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN: 01/2017/BCT. Các sản phẩm này phải thực hiện công bố hợp quy theo quy định tại QCVN: 01/2017/BCT.
  1.2. Việc hợp quy đối với sản phẩm được may từ nguyên liệu đã công bố hợp quy được thực hiện theo một trong hai trường hợp sau:
  *Trường hợp 1: Đối với các sản phẩm được may từ các nguyên liệu đã công bố hợp quy, trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng không làm phát sinh thêm hóa chất (formandehyt, amin thơm): sản phẩm cuối cùng không phải thực hiện việc thử nghiệm, đánh giá chứng nhận hợp quy nhưng phải công bố hợp quy (xây dựng hồ sơ công bố hợp quy và gửi về Sở Công Thương).
  *Trường hợp 2: Đối với các sản phẩm được may từ các nguyên liệu đã công bố hợp quy, trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng có làm phát sinh thêm hóa chất (formandehyt, amin thơm): sản phẩm cuối cùng phải thực hiện việc thử nghiệm, đánh giá chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy.

Trả lời:

Câu hỏi:
  Việc kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với các khoản chi mua khẩu trang, nước sát khẩn tay, một số phụ kiện bảo hộ và chi xét nghiệm các bệnh truyền nhiễm cho nhân viên để phòng ngừa lây nhiễm Covid- 19 như thế nào?
Cục Thuế TP. Hà Nội trả lời vấn đề này như sau:
  - Căn cứ Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNDN tại Nghị định 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ hướng dẫn việc xác định chi phí được trừ, không được trừ khi tính thu nhập chịu thuế TNDN thì các khoản chi phí không được trừ gồm:
  “Điều 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2, Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư số 151/2014/TT-BTC) như sau:
  “Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
  1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
  a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
  b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
  c) Khoản chi nếu có hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
  Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế GTGT...
  2. Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:
… 2.30. Các khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế, trừ các khoản chi sau:
... - Khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động như: Chi đám hiếu, hỷ của bản thân và gia đình người lao động; chi nghỉ mát, chi hỗ trợ điều trị; chi hỗ trợ bổ sung kiến thức học tập tại cơ sở đào tạo; chi hỗ trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, ốm đau; chi khen thưởng con của người lao động có thành tích tốt trong học tập; chi hỗ trợ chi phí đi lại ngày lễ, tết cho người lao động; chi bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tự nguyện khác cho người lao động (trừ khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động hướng dẫn tại Điểm 2.6, bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động hướng dẫn tại Điểm 2.11 Điều này) và những khoản chi có tính chất phúc lợi khác. Tổng số chi có tính chất phúc lợi nêu trên không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp...”.
  - Căn cứ đ.3.2 Khoản 2, Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013, quy định các khoản thu nhập chịu thuế TNCN:
"2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công
đ) Các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế được hưởng dưới mọi hình thức:
đ.3.2) Khoản chi dịch vụ khác phục vụ cho cá nhân trong hoạt động chăm sóc sức khoẻ, vui chơi, giải trí thẩm mỹ... nếu nội dung chi trả ghi rõ tên cá nhân được hưởng. Trường hợp nội dung chi trả phí dịch vụ không ghi tên cá nhân được hưởng mà chi chung cho tập thể người lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế.
đ.7) Các khoản lợi ích khác.
Các khoản lợi ích khác mà người sử dụng lao động chi cho người lao động như: Chi trong các ngày nghỉ, lễ; thuê các dịch vụ tư vấn, thuê khai thuế cho đích danh một hoặc một nhóm cá nhân; chi cho người giúp việc gia đình như lái xe, người nấu ăn, người làm các công việc khác trong gia đình theo hợp đồng...".
  - Căn cứ Điều 63 Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp:
  "Điều 63. Tài khoản 353 – Quỹ khen thưởng, phúc lợi
  1. Nguyên tắc kế toán
  a) Quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi được trích từ lợi nhuận sau thuế TNDN của doanh nghiệp để dùng cho công tác khen thưởng, khuyến khích lợi ích vật chất, phục vụ nhu cầu phúc lợi công cộng, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động...".
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp công ty của ông Minh trong đợt dịch Covid-19 có phát sinh một số khoản chi mua khẩu trang, nước sát khuẩn tay, một số phụ kiện bảo hộ và chi xét nghiệm các bệnh truyền nhiễm cho nhân viên để phòng ngừa lây nhiễm vi rút Covid-19, nếu khoản chi ghi rõ tên cá nhân hưởng thì khoản chi này tính vào thu nhập chịu thuế TNCN; nếu khoản chi không ghi rõ tên cá nhân hưởng mà chi chung cho tập thể người lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
  Các khoản chi nêu trên là các khoản chi trực tiếp cho người lao động ngoài các khoản chi lương thưởng đã thỏa thuận và phù hợp với quy định của pháp luật nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động được xác định là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN nếu đáp ứng quy định tại Khoản 1, Điều 4 Thông tư 96/2014/TT-BTC nêu trên và tổng số chi có tính chất phúc lợi không quá 1 tháng lương bình quân thực tế trong năm tính thuế của doanh nghiệp.

Các khảo sát khác

Khảo sát thông tin về các vấn đề thuế - hải quan chuẩn bị Hội nghị Đối thoại Thuế - Hải quan 2021

Kết thúc: 15/11/2021

Câu hỏi: 0

Kết quả khảo sát