Gửi ý kiến theo hộp dưới đây hoặc liên hệ với chúng tôi

Trả lời:

Cục Quan hệ lao động và Tiền lương, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời vấn đề này như sau:
  Theo quy định tại Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/1/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động, trường hợp đặc biệt do thiên tai, hỏa hoạn hoặc vì lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động thì không được trả chậm quá 1 tháng.
  Vì vậy, đề nghị công ty căn cứ vào quy định trên để thực hiện trả lương cho người lao động.

Trả lời:

Câu hỏi:
  Gia đình tôi có đầu tư một dự án trường học và vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thanh Hóa. Hàng tháng thực hiện trả nợ đầy đủ và đúng hạn Ngân hàng. Dự án thuộc phân loại nợ nhóm 1. Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, trường học phải nghỉ từ tháng 2/2020, vì vậy không có nguồn trả nợ dẫn đến nợ quá hạn. Theo Chỉ thị số 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đối với các dự án bị ảnh hưởng vì dịch sẽ được giữ nguyên nhóm nợ nhưng Ngân hàng Phát triển đã chuyển nhóm nợ của khách hàng sang nhóm 5. Việc làm này gây ảnh hưởng rất lớn cho doanh nghiệp. Tôi xin hỏi, Ngân hàng làm như vậy có đúng quy định không?
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trả lời vấn đề này như sau:
  Về việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng vì Covid-19 vay vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT), Bộ Tài chính có Công văn số 5288/BTC-TCNH ngày 29/4/2020 nhất trí về nguyên tắc việc NHPT rà soát, đánh giá để báo cáo cấp có thẩm quyền chấp thuận, thực hiện các giải pháp hỗ trợ đối với các khách hàng khó khăn về tài chính do ảnh hưởng của dịch Covid-19 bảo đảm đúng đối tượng, phù hợp với tình hình thực tế, tuân thủ các quy định của pháp luật.
  
  Về việc được giữ nguyên nhóm nợ của khách hàng vay vốn tại NHPT: Thẩm quyền xử lý rủi ro đối với khoản vay tín dụng đầu tư Nhà nước tại NHPT được thực hiện theo quy chế xử lý rủi ro tại NHPT do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
  Hiện nay, Bộ Tài chính là đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì, xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ quy chế xử lý rủi ro tại NHPT. Vì vậy, doanh nghiệp có thể liên hệ Bộ Tài chính và NHPT để được biết thêm về các giải pháp hỗ trợ khách hàng vay vốn tại NHPT bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Trả lời:

Câu hỏi:
  Đơn vị sự việc công lập thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao quản lý và sử dụng 503m2 đất tại đường Lê Thánh Tông, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội (theo quyết định). Hằng năm, đơn vị nộp 100% tiền thuê đất cho Chi cục Thuế Hoàn Kiếm theo đúng giá TP. Hà Nội quy định. Hiện tại đối với khu đất tổng mức thuê như sau:
Mức giá cao nhất đối với đường Lê Thánh Tông x hệ số K.
Theo thông báo của cơ quan Thuế quận Hoàn Kiếm mức thuê năm 2020 xấp xỉ là 800 triệu đồng.
Như vậy, đơn vị là đối tượng trực tiếp thuê đất và nộp tiền thuê đất cho Nhà nước.
  
  Tuy nhiên, cơ quan Thuế quận Hoàn Kiếm sau khi tiếp nhận đơn xin chậm nộp tiền thuê đất theo quy định của Nhà nước để hỗ trợ dịch bệnh Covid-19 đã trả lời đơn vị tôi không thuộc đối tượng được hưởng do:
- Không ký hợp đồng thuê đất trực tiếp với TP. Hà Nội.
- Không được TP. Hà Nội trực tiếp giao đất.
  Đơn vị đã nghiêm chỉnh chấp hành chỉ đạo của thành phố dừng hoạt động từ cuối tháng 3/2020 đến cuối tháng 4/2020. Ngoài ra, đơn vị nói riêng và các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung gặp nhiều khó khăn hơn các doanh nghiệp trong tình trạng dịch Covid - 19. Đề nghị cơ quan chức năng xem xét, hướng dẫn.
Cục Thuế TP Hà Nội trả lời vấn đề này như sau:
  Căn cứ Điều 3 Nghị định số 41/2020/NĐ-CP ngày 8/4/2020 của Chính phủ về gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất, quy định về gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất:
  “4. Đối với tiền thuê đất
  Gia hạn thời hạn nộp tiền thuê đất đối với số tiền thuê đất phải nộp kỳ đầu năm 2020 của doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo Quyết định, Hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dưới hình thức trả tiền thuê đất hàng năm. Thời gian gia hạn là 05 tháng kể từ ngày 31 tháng 5 năm 2020”.
  Căn cứ Quyết định 22/2020/QĐ-TTg ngày 10/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc giảm tiền thuê đất của năm 2020 đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ quy định:
  Tại Điều 2 quy định về đối tượng áp dụng:
  “1. Doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo Quyết định hoặc Hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dưới hình thức trả tiền thuê đất hàng năm phải ngừng sản xuất kinh doanh từ 15 ngày trở lên do ảnh hưởng của dịch Covid-19 (sau đây gọi là người thuê đất)...”.
  Căn cứ quy định trên, đối tượng được gia hạn nộp tiền thuê đất kỳ đầu năm 2020 theo Nghị định số 41/2020/NĐ-CP của Chính phủ và giảm tiền thuê đất năm 2020 theo Quyết định 22/2020/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là người thuê đất được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo Quyết định, hợp đồng dưới hình thức trả tiền thuê đất hàng năm (Đối với trường hợp giảm tiền thuê đất năm 2020 thì phải ngừng sản xuất kinh doanh từ 15 ngày trở lên do ảnh hưởng của dịch Covid-19).
  Trường hợp đơn vị thuê đất chưa có Quyết định, hợp đồng thuê đất theo quy định thì không thuộc đối tượng được gia hạn nộp tiền thuê đất, giảm tiền thuê đất.
  Cục Thuế TP Hà Nội đề nghị đơn vị căn cứ hồ sơ thực tế và đối chiếu các quy định để thực hiện, trường hợp có vướng mắc, đơn vị cung cấp hồ sơ cụ thể và liên hệ với cơ quan Thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn.

Trả lời:

  Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội trả lời câu hỏi của Hộ kinh doanh đối với vấn đề điều kiện nhận hỗ trợ theo Nghị quyết 42/NQ-CP như sau:
  Hộ kinh doanh đảm bảo đủ điều kiện quy định tại Điều 3, Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg và có hồ sơ đề nghị hỗ trợ thì được xem xét hỗ trợ.
Việc thẩm định, phê duyệt các đối tượng được hỗ trợ thuộc thẩm quyền của Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh và đảm bảo các nguyên tắc theo Nghị quyết 42/NQ-CP, đặc biệt là nguyên tắc hỗ trợ đối tượng bị giảm sâu thu nhập, gặp khó khăn, không đảm bảo mức sống tối thiểu, chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 ./.

Trả lời:

  Nội dung câu hỏi: Doanh nghiệp phải ngừng việc do dịch Covid-19, trong đó toàn bộ NLĐ của doanh nghiệp phải ngừng việc, có ký HĐLĐ với NLĐ. Người lao động có tham gia bảo hiểm y tế nhưng không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (vì doanh nghiệp nhỏ, không đủ khả năng cho NLĐ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc), từ tháng 4 năm 2020, doanh nghiệp phải đóng cửa, không có nguồn thu nào. Doanh nghiệp có được hỗ trợ vay vốn để trả lương ngừng việc cho NLĐ không?
  Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đã trả lời câu hỏi của doanh nghiệp như sau: "Theo quy định Khoản 1, Điều 14, Quyết định 15/2020/TTg, điều kiện để NSDLĐ được hỗ trợ vay vốn trả lương ngừng việc cho NLĐ là danh sách lao động bị ngừng việc phải có xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội về việc người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trước thời điểm ngừng việc. Vì lao động của doanh nghiệp không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nên doanh nghiệp không đủ điều kiện được vay vốn trên ./.

Trả lời:

Câu hỏi:
  Tôi là người khiếm thị, đang sở hữu cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng lao động cũng là người khiếm thị. Tôi gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn vay tại các ngân hàng thương mại. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, doanh nghiệp của tôi có nguy cơ phá sản.
  Cho tôi hỏi, doanh nghiệp của tôi có thể tiếp cận nguồn vốn ưu đãi nào không?
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trả lời vấn đề này như sau:
  Hiện nay, đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật sẽ được vay vốn ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội theo Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 9/7/2015 và Nghị định số 74/2019/NĐ-CP ngày 23/9/2019 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm.
  Theo đó, các cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật được vay vốn tối đa là 2 tỷ đồng/dự án và không quá 100 triệu đồng cho 1 người lao động được tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm; lãi suất vay bằng 50% lãi suất cho vay đối với hộ cận nghèo theo quy định.
  Do đó, đề nghị ông Lập liên hệ với cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội tại các tỉnh, thành phố (cơ quan quản lý chương trình) và Ngân hàng Chính sách xã hội để được hướng dẫn vay vốn theo quy định.​

Trả lời:

Câu hỏi:
  Tôi làm việc tại doanh nghiệp Nhà nước. Trong thời gian dịch Covid-19, công ty tôi thực hiện giãn cách ngày làm việc. Theo đó, nghỉ từ ngày 1/4/2020 đến ngày 15/4/2020. Sau đó công ty ban hành văn bản gia hạn nghỉ đến ngày 29/4/2020. Công ty thông báo những ngày nghỉ sẽ chấm công trừ ngày phép năm, ai hết phép sẽ tính thời gian giãn việc và nhận 75% lương. Từ ngày 4/5/2020, công ty thông báo, tất cả nhân viên phải đăng ký nghỉ hết phép năm, nếu không nghỉ hết công ty sẽ không thanh toán tiền những ngày phép không nghỉ (trong thỏa ước lao động của công ty tôi và trong Bộ luật Lao động quy định nếu người lao động không nghỉ hết phép thì người sử dụng lao động thanh toán bằng tiền). Vậy, người sử dụng lao động có quyền bắt buộc người lao động nghỉ phép không? Người sử dụng lao động có quyền bắt người lao động đăng ký nghỉ phép trước từ đầu năm không? Nếu người lao động không đăng ký nghỉ phép có bị xử lý kỷ luật không? Các chức danh như thành viên Hội đồng thành viên, Ban Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng, Kiểm soát viên tại công ty có được Nhà nước quy định ngày nghỉ phép không? Các chế độ về ngày phép của cán bộ công chức quản lý doanh nghiệp được quy định ra sao?
Cục An toàn lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời vấn đề này như sau:
  Tại Khoản 2 Điều 111 Bộ luật Lao động quy định: “Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động”.
  Như vậy, người sử dụng lao động quyết định việc thực hiện chế độ nghỉ hằng năm (thời điểm nghỉ hằng năm, thời gian nghỉ cụ thể...).
  Trong trường hợp nghỉ giãn cách xã hội, người sử dụng lao động tham khảo ý kiến của người lao động trước khi quyết định lịch nghỉ hằng năm và thông báo trước cho người lao động là phù hợp quy định của pháp luật lao động.
  Ngoài ra đề nghị ông tham khảo Công văn số 1064/LĐTBXH-QHLĐTL ngày 25/3/2020 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn trả lương ngừng việc và giải quyết chế độ cho người lao động trong thời gian ngừng việc liên quan đến dịch bệnh Covid-19.
  Về quy định ngày nghỉ phép cho các chức danh như thành viên Hội đồng thành viên, Ban Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng, Kiểm soát viên: Tại Điều 5 Bộ luật Lao động quy định quyền của người lao động là được nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có hưởng lương… (người lao động được định nghĩa tại Điều 3 Bộ luật Lao động, là người lao động từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động).
  Tại Khoản 1 Điều 111 quy định, “Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương”.
  Điều 13 Luật Cán bộ, công chức quy định, “Cán bộ, công chức được nghỉ hằng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động”.
  Đề nghị ông nghiên cứu thực hiện theo quy định pháp luật, liên hệ với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tại địa phương để được hỗ trợ pháp lý theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Các khảo sát khác

Khảo sát thông tin về các vấn đề thuế - hải quan chuẩn bị Hội nghị Đối thoại Thuế - Hải quan 2021

Kết thúc: 15/11/2021

Câu hỏi: 0

Kết quả khảo sát